Chỉ số dân chủ

Nguyễn Hưng Quốc  Thứ Hai, 16 tháng 5 2011

Trong bài “Chút son trên miệng cá sấu”, tôi nêu lên nhận định: các cuộc bầu cử ồn ào nhưng giả tạo ở Việt Nam không hề có liên hệ gì đến cái gọi là dân chủ mà chính quyền cũng như đảng Cộng sản muốn phô trương cả. Có bầu cử Quốc Hội hay không, chế độ chính trị tại Việt Nam hiện nay, tự bản chất, cũng vẫn là một chế độ độc tài, một thứ độc tài tuyển cử (electoral authoritarianism).
Vậy, chỉ số (indicator) dân chủ là gì?
Có nhiều quan điểm khác nhau.
Một cách tiêu cực, nhiều học giả cho dân chủ là những gì trái ngược với độc tài, do đó, chỉ số của dân chủ cũng chính là sự vắng mặt của các dấu hiệu độc tài. Chẳng hạn, theo Giovanni Sartori, trong cuốn The Theory of Democracy Revisited (1987), dân chủ là một hệ thống trong đó không ai có thể tự chọn chính mình, không ai có thể tự chiếm đoạt quyền lực một cách vô điều kiện và vô giới hạn. (Nhớ đến điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”)
Một cách tích cực, nhiều học giả khác loay hoay tìm cách xác định các bảng đo lường cụ thể để đánh giá mức độ dân chủ của từng quốc gia. Tuy nhiên, ở khía cạnh này, giới nghiên cứu rất ít thống nhất với nhau. Trong cuốn Prospects of Democracy: A Study of 172 Countries (Routledge, London, 1997), Tatu Vanhanen cho “hầu như tất cả các nhà nghiên cứu từng nỗ lực đo lường mức độ dân chủ đều sử dụng những chỉ số khác nhau” (tr. 31). Ngay ở một nhà nghiên cứu, các chỉ số cũng có thể biến thiên khi họ xê dịch từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hoặc từ nền văn minh này sang nền văn minh khác.
Nhận thức được khuyết điểm ấy, sau này, nhiều học giả cố gắng chuẩn hóa các tiêu chí đo lường dân chủ. Đại khái, có hai khuynh hướng chính.
Một, thiên về số lượng, tiêu biểu nhất là Philips Cutright, người, trong bài “National political development: measurement and analysis” đăng trên tạp chí American Sociological Review số 28 năm 1963, đề xuất một bảng dấu chỉ (index) để đánh giá các nền dân chủ, xếp hạng từ 0 đến 63 điểm, căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau, từ việc tự do bầu cử đến sự hiện hữu của đối lập, v.v…
Hai, thiên về chất lượng, tiêu biểu nhất là Kenneth A. Bollen, người, trong bài “Political democracy and the timing of development” đăng trên tạp chí American Sociological Review số 44 năm 1979, đánh giá các nền dân chủ dựa vào hai kích thước chính: quyền chính trị (political rights) và tự do chính trị (political liberties). Quan niệm này được tổ chức Freedom House chấp nhận với một sự thay đổi nhỏ: họ dùng chữ tự do dân sự (civil liberties) thay vì tự do chính trị. Ở mỗi kích thước, người ta đo lường theo bảng điểm từ một đến bảy: Các quốc gia được xếp hạng từ một đến hai được xem là tự do; từ ba đến năm được xem là tự do một phần (partly free); và từ sáu đến bảy được xem là không có tự do.
Cái gọi là đánh giá theo chất lượng này, thật ra, cũng là đánh giá theo phán đoán; mà phán đoán thì không thể tránh khỏi chủ quan. Để hạn chế chủ quan, người ta lại phác họa ra nhiều khả năng và mức độ biến thiên của từng tiêu chí để có thể cân nhắc. Khả năng và mức độ biến thiên ấy càng nhiều, số lượng chỉ số càng tăng, vấn đề càng trở nên phức tạp và thường vượt ra ngoài tầm thu thập tư liệu của từng nhà nghiên cứu; cuối cùng, chỉ tạo cơ hội cho các nhà độc tài ngụy biện và tránh né tội trạng của mình.
Chính vì thế, nhiều học giả chỉ tập trung vào các chỉ số chính. Đó chính là những điều kiện căn bản và thiết yếu của dân chủ.
Theo Larry Diamond, Juan J. Linz và S.M. Lipset, trong bộ Politics in Developing Countries: Comparing Experiences with Democracy (1990), các chỉ số (và cũng là điều kiện) của dân chủ có thể được tóm gọn vào ba điểm:
Thứ nhất, tính cạnh tranh giữa các cá nhân và tổ chức, đặc biệt các tổ chức chính trị, ở mọi vị trí quyền lực trong bộ máy nhà nước. Sự cạnh tranh này phải được thiết chế hóa và được tổ chức định kỳ (ví dụ ba hay bốn năm một lần).
Thứ hai, sự tham gia tích cực và hiệu quả vào việc chọn lựa lãnh đạo và chính sách – ít nhất qua các cuộc bầu cử định kỳ và công bằng – của mọi công dân thành niên. Xin lưu ý chữ “mọi”: Không có người nào ở tuổi được quyền ứng cử và bầu cử có thể bị loại trừ chỉ vì những lý do liên quan đến chủng tộc, xã hội, giai cấp, tôn giáo, phái tính hay chính trị.
Và, thứ ba, quyền tự do chính trị và dân sự, bao gồm từ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thành lập và tham gia vào các tổ chức, kể cả tổ chức chính trị, để bảo đảm hai chỉ số đầu ở trên (cạnh tranh và tham gia) có thể thành hiện thực.
Tatu Vanhanen, trong cuốn Prospects of Democracy: A Study of 172 Countries, đề nghị một cách tính toán để đánh giá mức độ tham gia của dân chúng bằng cách dựa trên tỉ lệ cử tri đi bầu (cử tri đi bầu càng đông càng chứng tỏ mức độ tham gia vào sinh hoạt chính trị càng cao) và mức độ cạnh tranh bằng cách dựa trên tỉ lệ phiếu của đảng thắng cử (tỉ lệ càng cao càng chứng tỏ tính cạnh tranh ít).
Về phương diện mức độ tham gia chính trị của dân chúng, vấn đề sẽ trở thành phức tạp hơn nếu chúng ta chú ý đến hai yếu tố: một, sự tham gia vào bầu cử chỉ là một khía cạnh nhỏ trong sinh hoạt chính trị; và hai, các quốc gia có thể có chính sách khác nhau về bầu cử: ví dụ, ở các quốc gia có chính sách bầu cử hoàn toàn tự nguyện, số lượng cử tri đi bầu dĩ nhiên là thấp hơn ở các quốc gia cưỡng bức bầu cử, ai không đi bầu thì bị phạt.
Nhưng cách tính toán về tính cạnh tranh của Tatu Vanhanen thì chính xác: ở những nơi kết quả bầu cử suýt soát nhau, việc cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị chắc chắn là gay gắt hơn hẳn ở những nơi mà đảng cầm quyền bao giờ cũng thắng một cách dễ dàng với số phiếu áp đảo, nếu không phải 100% thì cũng 98-99%.
Ứng dụng ba chỉ số cạnh tranh, tham gia và tự do chính trị và dân sự ở trên, bạn thử đánh giá về tình hình dân chủ tại Việt Nam xem sao. Ví dụ, chúng ta thử trả lời các câu hỏi sau đây:
1.      Ở Việt Nam, trong các cuộc bầu cử, có đảng phái hay cá nhân nào cạnh tranh với đảng Cộng sản hay không? Ngay trong các cuộc bầu cử Quốc hội, nơi tất cả các ứng cử viên phải được sự chấp thuận của đảng Cộng sản – thông qua các cuộc hội nghị hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc tổ chức, các ứng cử viên cạnh tranh với nhau ở mức độ nào? Bao nhiêu ứng cử viên thì được chọn một?
2.      Ở Việt Nam, dân chúng có được quyền tham gia vào việc lựa chọn giới lãnh đạo và các chính sách quan trọng của đất nước hay không? (Ví dụ, trong việc bầu bán các chức vụ quan trọng nhất sắp tới, từ Chủ tịch nước đến Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội, dân chúng có chút tiếng nói nào không?)
3.      Ở Việt Nam, dân chúng có quyền được hưởng bất cứ chút tự do căn bản nào, từ tự do ngôn luận đến tự do báo chí, tự do thành lập và tham gia đảng phái hay không?
Xin lưu ý các bạn đang sống ở Việt Nam: bạn có thể giữ kín các câu trả lời trong bụng mình. Không cần nói ra đâu. Coi chừng bạn bị bắt vì tội trốn thuế hay vì hai cái condom đã qua sử dụng rồi đấy!
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Không thể xuyên tạc về dân chủ trong bầu cử ở Việt Nam
QĐND – Thứ Ba, 10/05/2011, 18:40 (GMT+7)
Đối Thoại: Xây dựng dân chủ bằng súng!! Tác giả Đỗ Phú Thọ nào đó quả tình khinh khi trí tuệ Việt Nam đến mức không còn chữ nghĩa nào để diễn tả. Chỉ có 2 việc có thể làmL1) Cắt lưỡi để Ông Thọ không còn nói bậy.(2) Chặt tay để Ông Thọ không còn viết bậy
QĐND – Trong lúc cử tri cả nước đang náo nức đón chờ ngày đi bỏ phiếu bầu những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp thì một số người do không hiểu tình hình trong nước hoặc cố tình không hiểu đã đưa những thông tin sai lệch trên mạng internet về cuộc bầu cử ở Việt Nam. 
Cách đây hơn 65 năm, ngày 6-1-1946, lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, nhân dân ta, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, giai cấp, tôn giáo, chính kiến… đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới bằng phương thức bầu cử dân chủ, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Hơn 65 năm qua, với 12 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội đã luôn luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011), Quốc hội đã thông qua 67 luật, 12 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội  đã thông qua 13 pháp lệnh và 7 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Các dự án luật được ban hành có chất lượng cao, cụ thể, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, xử lý tốt một số vấn đề nhạy cảm; bám sát, phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn kinh tế-xã hội.
Cùng với giám sát tối cao qua việc xem xét các báo cáo của cơ quan, cá nhân theo quy định, trong nhiệm kỳ khóa XII, Quốc hội đã giám sát tối cao 6 chuyên đề. Trong đó, đã tiến hành tái giám sát đối với nội dung về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương để có cơ sở đánh giá đúng sự chuyển biến trên thực tế sau lần giám sát trước. Sau mỗi chuyên đề, Quốc hội đều ra Nghị quyết nêu rõ yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể mà Chính phủ, các cơ quan liên quan phải tập trung thực hiện.  Cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã quyết định chủ trương đầu tư dự án thủy điện Lai Châu và dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; xem xét thông qua nhiều vấn đề quan trọng khác. Đặc biệt, với tinh thần trách nhiệm cao, trên cơ sở các báo cáo và tờ trình của Chính phủ, Quốc hội  đã thảo luận dân chủ, xem xét, cân nhắc toàn diện, nghiêm túc, kỹ lưỡng và quyết định chưa thông qua chủ trương đầu tư xây dựng dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh; giao Chính phủ rà soát, hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể các loại hình vận tải Bắc – Nam, trên cơ sở đó trình Quốc hội xem xét, quyết định cụ thể vào thời gian thích hợp.
Sở dĩ chúng tôi phải nhắc lại một số công việc đã làm của Quốc hội trong nhiệm kỳ vừa qua để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Quốc hội trong đời sống chính trị, xã hội của đất nước, điều này trái với quan điểm của một số người có thể do không hiểu tình hình  mà đã xuyên tạc rằng “Các đại biểu Quốc hội Việt Nam chỉ là “nghị gật”, nói theo Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Trở lại với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Cuộc bầu cử được tổ chức căn cứ vào Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nguyên tắc bầu cử đã được ghi trong Luật là: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đây cũng chính là những nguyên tắc cơ bản nhất của những đạo luật về bầu cử được đánh giá là dân chủ, tiến bộ nhất thế giới hiện nay. Các nguyên tắc này thể hiện tính chặt chẽ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn.
Nguyên tắc phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND  theo quy định của pháp luật.
Bình đẳng trong bầu cử là một nguyên tắc nhằm bảo đảm tính khách quan, không thiên vị để mọi công dân đều có khả năng như nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào.
Bầu cử trực tiếp là việc cử tri trực tiếp đi bầu cử, tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn người mình tín nhiệm mà không bị tác động bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Theo đó, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Như vậy, việc cử tri lựa chọn ai là quyền của họ, không hề có “sự chỉ đạo” như một số người đã phát biểu. Mới đây, tại phiên họp thứ tư của Hội đồng bầu cử, đồng chí Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Hội đồng bầu cử lại một lần nữa khẳng định: “Không có “quân xanh”, “quân đỏ” trong bầu cử”. Đồng chí cũng yêu cầu các cấp các ngành, các địa phương phải tạo điều kiện tốt nhất cho cử tri lựa chọn những người xứng đáng nhất trong số những người xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp.
Cũng cần phải nhắc lại rằng: Quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp được tổ chức vừa qua là quá trình thực hiện dân chủ và minh bạch do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể tổ chức, thể hiện bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và việc tham gia hiệp thương bầu cử có đại diện của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo… tham gia.
Cho đến thời điểm này, công việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp của cả nước đã cơ bản hoàn tất. Các địa phương đã hoàn thành việc niêm yết danh sách cử tri, niêm yết danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Các ứng cử viên đều được lựa chọn, giới thiệu theo quy trình bình đẳng, dân chủ và đúng pháp luật. Theo tổng hợp của Hội đồng bầu cử, số người ứng cử đại biểu Quốc hội trong danh sách chính thức đã gấp 1,65 lần so với đại biểu được bầu (827/500). Số người ứng cử đại biểu HĐND so với số đại biểu được bầu gấp 1,55 lần (5.965/3.822). Như vậy sẽ có rất nhiều ứng cử viên dư ra để cử tri lựa chọn. Cũng theo tổng hợp của Hội đồng bầu cử, trình độ học vấn của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp kỳ này đều cao hơn kỳ trước. Hiện nay, các địa phương đang tổ chức  các Hội nghị để cử tri gặp gỡ, tiếp xúc với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND; các ứng cử viên cũng đang trong quá trình vận động bầu cử để cử tri hiểu thêm về người ứng cử, làm cơ sở để lựa chọn người đủ tiêu chuẩn, có đức, có tài làm đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND. Đó là những cơ sở quan trọng để khẳng định cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp sắp tới thực sự dân chủ và đang trở thành ngày hội lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.
Bài và ảnh: Đỗ Phú Thọ
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: