Đối Thoại hệ Mỹ-Hoa

Vũ Hoàng và Nguyễn Xuân Nghĩa
2011-05-11
Suốt hai ngày mùng chín mùng mười tuần này, phái đoàn hùng hậu của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có hàng loạt những cuộc tiếp xúc tại thủ đô Washington D.C. của Hoa Kỳ.
     AFP-Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon trong
     chuyến viếng thăm chính thức Trung Quốc
    đang nâng ly chúc mừng Chủ tịch Mao Trạch
    Đông trong cuộc gặp gỡ tại Bắc Kinh vào năm
   1972.
Đây là kỳ thứ ba của chương trình gọi là “Đối thoại về Chiến lược và về Kinh tế” giữa hai nước đứng đầu thế giới về kinh tế và cũng là giữa một quốc gia dân chủ nhất là Hoa Kỳ với một xứ đông dân nhất mà có chế độ độc đảng là Trung Quốc. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về khuôn khổ đối thoại này trong phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có mối quan hệ từ tiền kiếp

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, thưa ông, là mối quan tâm của nhiều người, kể cả ở Việt Nam. Tuần này, các lãnh đạo cao cấp của đôi bên đã lại có một cuộc họp định kỳ tại thủ đô Mỹ. Theo dõi tình hình Trung Quốc và mối quan hệ giữa hai quốc gia này, ông đánh giá ra sao về các cuộc gặp gỡ đó? Như mọi khi, xin ông trình bày cho bối cảnh của vấn đề.
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Chúng ta sẽ đi từ chuyện xa ra chuyện gần.
– Hoa Kỳ đã có quan hệ với Trung Quốc có thể gọi là từ tiền kiếp, tức là trước khi trở thành một nước độc lập. Nhưng khi Hoa Kỳ xuất hiện, là từ cuối thế kỷ 18, và phát triển thành một quốc gia hùng mạnh và thịnh vượng, là trong 200 năm qua, thì cũng là lúc “siêu cường” của thế giới thời đó là Trung Quốc lại bắt đầu lụn bại, từ sau thời Càn Long trở đi. Rồi bị tan rã trong nhiều thập niên cho đến ba chục năm trước mới tái xuất hiện như một cường quốc. Đó là bối cảnh chung.
– Nói về quan hệ kinh tế thì biến cố năm 1773 đánh dấu phong trào nổi dậy giành độc lập là vụ “khởi nghĩa vì trà” – người Mỹ gọi là “Boston Tea Party”. Đó là khi cư dân quăng trà xuống biển tại hải cảng Boston để phản đối chính khách thuế khóa của chính quyền thuộc địa của Đế quốc Anh. Trà đó không là trà Ấn Độ mà người Anh hay uống mà là trà Tầu, điều ấy cho thấy là từ tiền kiếp rồi, Mỹ đã nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc!
– Sau đấy, khi nhà Đại Thanh bị suy yếu và bị các nước Âu Châu gây sức ép để đòi buôn bán và thậm chí
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông gặp gỡ tại Bắc Kinh vào năm 1972.
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông gặp gỡ tại Bắc Kinh vào năm 1972.
tấn công để khai thác, Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài vì theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ họ mới thành lập, hơn là bành trướng ra ngoài. Dân Mỹ chỉ quan tâm đến Trung Quốc qua các nhà truyền giáo mà chẳng biết tới ảnh hưởng thật ra giới hạn của các mục sư trong thiện chí này.
– Khi sáu nước Âu Châu và Nhật tấn công Trung Quốc bằng võ lực, Hoa Kỳ không tham dự vào cái gọi là “bát quốc liên quân” mà chỉ đòi là Trung Quốc mà cho các nước những điều kiện gì thì mình cũng được như vậy. Đó là nguyên ủy của quy chế ta gọi là “tối huệ quốc” sau này. Khi các nước đòi Trung Quốc bồi thường thiệt hại vì vụ nổi dậy và đập phá các cơ sở Tây phương của phong trào gọi là “Nghĩa hoà đoàn” cũng bị gọi là “Loạn quyền phỉ” vào cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ cũng nhận tiền bồi thường, nhưng lại dùng để cấp học bổng cho sinh viên Trung Quốc đi học để nâng cao dân trí và tin rằng lãnh đạo Trung Quốc hiểu ra thiện chí của mình.
Vũ Hoàng: Xin hỏi ông ngay một câu, trong phần trình bày về bối cảnh vừa qua, ta thấy ra nào là việc buôn bán, việc truyền giáo, việc chấp nhận quy chế giao thương không hạn chế gọi là tối huệ quốc, thậm chí cả chiến tranh và du học sinh, v.v… Chúng ta thấy ra toàn những vấn đề có thể nói là “hiện đại”, là thời sự. Có phải như vậy không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng thế và xuyên qua đó ta còn thấy nhiều hiểu lầm từ cả hai phía!
– Hoa Kỳ tưởng rằng mình có thiện chí, Trung Quốc thì coi là Hoa Kỳ chẳng khác gì Âu Châu hay Nhật Bản đã từng tấn công và khuynh đảo xứ mình. Qua thế kỷ 20, tình trạng hiểu lầm đó còn tiếp tục, nhất là khi lãnh đạo Trung Quốc thấy xứ sở bị tàn phá, chủ quyền bị xâm lấn và khi phe Cộng sản chiến thắng thì mối hoài nghi hoặc ác cảm đó chỉ tăng vì do nhu cầu chống Nhật, Hoa Kỳ yểm trợ Trung Hoa Quốc Dân Đảng cho tới năm 1947 mới chấm dứt.
– Ngược lại, Hoa Kỳ chưa có chủ đích rõ rệt với chế độ mới thành hình tại Trung Quốc vào năm 1949 thì lại giật mình vì phản ứng bành trướng “để tự vệ” của Cộng sản Trung Hoa. Lãnh đạo Bắc Kinh coi việc họ chiếm đóng Tân Cương, Tây Tạng và đưa quân vào bán đảo Triều Tiên là để tự vệ, tức là xây vùng trái độn để khỏi bị uy hiếp như đã từng bị trong lịch sử của họ. Phía Mỹ thì coi đó là sự xâm lăng trắng trợn.
– Suốt hai chục năm đầu của đảng Cộng sản Trung Quốc thời Mao – từ 1949 đến 1969 – Hoa Kỳ đứng ngoài để canh chừng sự bành trướng chung của khối Cộng sản trong toàn cục của Chiến tranh lạnh, và dù có tham chiến tại Việt Nam thì vẫn không muốn trực tiếp gây hấn với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cách mạng hoang tưởng và sắt máu của Mao Trạch Đông để xây dựng “xã hội chủ nghĩa” và làm xứ sở thêm lụn bại trong sự cô lập mê sảng.

Gặp gỡ định kỳ song phương Mỹ – Trung

Vũ Hoàng: Cho đến khi Tổng thống Richard Nixon mở đường đối thoại và kéo Trung Quốc ra khỏi thời kỳ cô lập đó, vào năm 1972?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy và chúng ta bước qua bối cảnh hiện tại.
– Bối cảnh này có ba mốc thời gian đáng kể là năm 1972 là khi ông Nixon đi Tầu như ông vừa nhắc tới; là năm 1979 là khi Hoa Kỳ bang giao với Bắc Kinh, cho Trung Quốc gia nhập Liên hiệp quốc, mà đó cũng là năm Đặng Tiểu Bình khởi sự cải cách kinh tế sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng vào tháng 12 năm 1978. Sau cùng và đáng kể vì gần nhất là năm 2001 khi Hoa Kỳ đón nhận Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
– Nhờ được mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng với tốc độ cao hơn và có giúp cho mấy trăm triệu người ra khỏi hoàn cảnh chết đói vì nghèo khốn. Nhưng cũng vì vậy mà quan hệ
Tổng thống Mỹ George W. Bush (Phải) và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào chụp tại Waldorf Astoria ở New York ngày 13 tháng 9 năm 2005. AFP
Tổng thống Mỹ George W. Bush (Phải) và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào chụp tại Waldorf Astoria ở New York ngày 13 tháng 9 năm 2005. AFP
kinh tế với Mỹ bắt đầu có vấn đề và đôi bên cần một diễn đàn đối thoại.
Vũ Hoàng: Chúng ta đi vào chuyện thời sự với cuộc đối thoại tuần này. Trước nhất, đó là về kinh tế có phải không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Mọi sự bắt đầu từ năm 2004, bên lề Thượng đỉnh APEC tức là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương tại Chile, khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề nghị với Tổng thống George W. Bush là cấp lãnh đạo kinh tế hai nước nên có những gặp gỡ định kỳ để thảo luận về các vấn đề song phương. Nôm na là về áo cơm giữa hai nước thì nên nói chuyện phải quấy với nhau, chớ đừng đánh nhau bằng luật lệ hay tố tụng! Cuộc gặp gỡ lần đầu là vào Tháng Tám năm 2005 tại Bắc Kinh. Lần thứ nhì là Tháng 12 năm đó tại thủ đô Washington D.C. Tổng cộng là sáu lần trong ba năm….
– Qua năm 2006, Tổng thống Bush và Hồ Cẩm Đào đồng ý nâng cấp đối thoại lên một bậc và định chế hóa việc này thành một năm hai phiên họp, luân phiên tại thủ đô của hai nước. Tổng cộng thì hai bên có năm phiên họp như vậy, phía Hoa Kỳ do Tổng trưởng Ngân khố làm trưởng đoàn, phía Trung Quốc là Phó Thủ tướng, khi ấy là bà Ngô Nghi. Đó là khuôn khổ đối thoại kinh tế mang tính chất chiến lược, gọi là Strategic Economic Dialogue, trong đó, tầm chiến lược của vấn đề kinh tế được nhấn mạnh: chữ “chiến lược” là hình dung từ bổ nghĩa cho chữ “kinh tế”.
– Thế rồi đến Thượng đỉnh G-20 vào Tháng Tư năm 2009, lãnh đạo hai nước là Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề nghị mở rộng tầm đối thoại. Từ nay sẽ bao gồm hai loại hồ sơ là kinh tế lẫn chiến lược giữa đôi bên. Thực tế là nói chuyện về quan hệ kinh tế và ngoại giao giữa hai quốc gia lẫn các vấn đề đáng quan tâm của thế giới. Ngoài giới chức kinh tế tài chánh, còn có sự tham dự của viên chức ngoại giao cấp cao.
– Đồng chủ tịch của phần vụ đối thoại về kinh tế là Tổng trưởng Ngân khố Mỹ Timothy Geithner và Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn. Đồng chủ tịch của phần vụ đối ngoại về chiến lược là Ngoại trưởng Hillary Clinton và Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc – ông này một “siêu Tổng trưởng” và nhân vật có thẩm quyền về ngoại giao của Trung ương đảng. Khuôn khổ đối thoại vừa kinh tế vừa chiến lược (S&E thay vì SE) xuất phát từ đó. Lần này là cuộc gặp gỡ thứ ba. Nhưng lần này, việc đối thoại hoặc thực tế là thương thảo song phương còn có ý nghĩa khác. Vì một sáng kiến của… Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Đối thoại nới rộng từ Kinh tế đến an ninh và quân sự

Vũ Hoàng: Ông vừa trình bày tính cách mở rộng của đối thoại, từ kinh tế qua chiến lược, bây giờ lại có thêm một nội dung đối thoại khác là quân sự nữa hay sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Số là trong hơn một năm liền Trung Quốc từ chối thảo luận về các vấn đề quân sự, Tháng Giêng vừa qua, khi thăm viếng Bắc Kinh và chứng kiến sự xuất hiện của máy bay tàng hình “Tiêm
TT Barack Obama và Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào cùng nâng ly tại buổi dạ tiệc tối 19/1/2011 tại Tòa Bạch Ốc.
TT Barack Obama và Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào cùng nâng ly tại buổi dạ tiệc tối 19/1/2011 tại Tòa Bạch Ốc.AFP
kích J-20″ Trung Quốc trước vẻ ngơ ngác của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ là ông Robert Gates đề nghị là đôi bên nên đưa vấn đề an ninh vào nghị trình các buổi họp, với sự tham dự của các giới chức về an ninh và quân sự.
– Lý luận ở đây là quan hệ giữa đôi bên đã suy đồi vì những gián đoạn thông tin và thiếu thảo luận về quân sự và quốc phòng. Từ việc Mỹ cung cấp võ khí cho Đài Loan tự vệ đến nỗ lực trang bị quân sự của Bắc Kinh, hoặc khủng hoảng tại bán đảo Triều Tiên vì Bắc Hàn, v.v…  hai bên có những động thái khiến bên kia nghi ngờ. Chi bằng công khai hóa quyết định của mình. Hoa Kỳ đã có khuôn khổ đối thoại và thương thảo như vậy với Liên bang Nga, cớ sao không có một nơi thảo luận tương tự với Trung Quốc? Sau cùng thì Bắc Kinh đồng ý. Như vậy, việc nâng cấp rồi mở rộng nội dung đối thoại phản ảnh nhiều vấn đề căng thẳng trong quan hệ song phương giữa hai nước, từ kinh tế qua chiến lược, rồi an ninh và quân sự. Nhưng vì là lần đầu nói chuyện, không ai chờ đợi một kết quả đột phá.
Vũ Hoàng: Khi theo dõi thì ông thấy nghị trình thảo luận giữa đôi bên có những gì là đáng chú ý?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi cho rằng ngoài lãnh vực an ninh và quân sự chưa có kết quả vì nghi ngờ còn quá sâu đậm, phía Hoa Kỳ cũng muốn Bắc Kinh giải thích cảm nghĩ của mình về mấy điểm nóng của thế giới. Thí dụ như phong trào dân chủ có là âm mưu của Mỹ không, hay là trào lưu tất yếu nhân loại? Cớ sao Trung Quốc lại có vẻ sợ hãi và bắt bớ lung tung? Song song với hội nghị này, Ngoại trưởng Hillary Clinton có nói với báo chí Mỹ việc Bắc Kinh cưỡng chống trào lưu dân chủ chỉ là phản ứng khôi hài và vô vọng. Bà dùng một thành ngữ của Mỹ, cũng tương tự như ta gọi là “đi chăn vịt trời vậy”! Bà còn nói thêm là mô thức phát triển của Trung Quốc không có tương lai và tất yếu sẽ khủng hoảng, tức là một nhận định rất nghiêm khắc. Ngoài ra, đôi bên có thể còn trao đổi về các hồ sơ chiến lược khác, kể cả nỗ lực chống khủng bố.
– Trong đề mục của chúng ta thì mình chú ý đến loại hồ sơ thứ ba sau an ninh và chiến lược, là hồ sơ kinh tế. Phía Hoa Kỳ muốn mở rộng tầm đối thoại ra khỏi chuyện hối suất đồng Nguyên và đã ký kết một thỏa ước chung về hợp tác kinh tế, ngoại thương và đầu tư.
– Tổng kết thì từ năm ngoái, Trung Quốc có chiều hướng đối thoại nhũn nhặn hơn. Bắc Kinh chuẩn bị chuyển hướng kinh tế để tránh khủng hoảng và chuyển giao quyền lực cho thế hệ thứ năm sẽ lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào năm tới. Nhưng dưới vẻ nhũn nhặn là một chiến dịch tăng cường khả năng quân sự lồng trong cuộc vận động ngoại giao nhằm tạo ra hình ảnh ôn hòa và hào phóng hơn của Trung Quốc với nhiều quốc gia trên thế giới.
– Ngược lại, từ 10 năm trước, Mỹ mở cửa cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức WTO với hy vọng là xứ này sẽ cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, trở thành hiếu hòa và biết điều hơn trong một thế giới hội nhập. Chuyện ấy không xảy ra. Nhờ hội nhập, Trung Quốc vọt lên thành đại cường kinh tế và lại đòi lấn lướt các xứ khác trong khi vẫn giữ ách độc tài bên trong. Bây giờ, Hoa Kỳ cần xuất khẩu nhiều hơn và khó chấp nhận những hạn chế của Trung Quốc ở bên trong và sự bành trướng để uy hiếp xứ khác ở bên ngoài. Cho nên tôi nghĩ rằng vì kinh tế lẫn chiến lược, quan hệ đôi bên sẽ chỉ thêm căng thẳng. Và Bắc Kinh e sợ nhất là Mỹ mà giải quyết xong cuộc chiến khủng bố thì sẽ chú trọng hơn đến Đông Á như Ngoại trưởng Clinton đã thông báo từ năm 2009.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và chúng ta sẽ còn trở lại hồ sơ này trong các kỳ sau.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: