Khám phá “đường dây buôn tiền” chi viện miền Nam

Đã có một “đường dây buôn tiền” có một không hai trong lịch sử của những người cộng sản mà hành tung của họ còn ly kỳ gấp nhiều lần những phim trinh thám, tồn tại hàng chục năm giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gay go, gian khổ nhất. Những người buôn tiền đã âm thầm hoạt động trên khắp thế giới và trong lòng địch, chuyển hàng trăm triệu USD vào chiến trường, đổi ra tiền riel Campuchia, tiền bath Thái Lan, tiền chính quyền Sài Gòn, để nuôi quân, đánh thắng kẻ thù.
Ban tài chính đặc biệt là hệ thống gồm hai đầu mối chính hợp thành cơ cấu tài chính thống nhất trong cả nước, gồm Ban Tài chính đặc biệt, bí số N.2683 ở miền Nam và Quỹ ngoại tệ đặc biệt, bí số B.29 ở miền Bắc. N.2683 có chân rết ở Bắc Kinh, Hồng Công, Paris, Phnom Penh… B.29 thuộc Cục Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước, tiền thân của Ngân hàng Ngoại Thương, hoạt động đơn tuyến, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chính trị, có nhiệm vụ quan hệ và tiếp nhận viện trợ bằng ngoại tệ của nước bạn và các tổ chức, cá nhân, Việt kiều yêu nước trên thế giới để chuyển vào miền Nam, từ đó đưa đến những nơi cần thiết.

HƠN 200 NGÂN HÀNG CHUYỂN TIỀN CHO MIỀN NAM ĐÁNH MỸ

Từ năm 1954 đến năm 1959, nguồn tài chính của Đảng ở miền Nam chủ yếu là số vàng, tiền Đông Dương do ta để lại khi lực lượng chủ lực đã tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève; ngoài ra là vàng, tiền ta bí mật gửi vào sau và đặc biệt là nguồn thu từ các tổ chức kinh tế hoạt động công khai trong lòng địch. Từ năm 1960 đến năm 1964, sau khi bộ chính trị ra nghị quyết 15 khẳng định đường lối vũ trang đánh Mỹ, ban Tài chính đặc biệt xây dựng cơ sở bình phong tại Phnom Penh, tại Sài Gòn để chuẩn bị tiếp nhận chi viện từ hậu phương lớn nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Thời gian này, việc chi viện cho miền Nam chủ yếu bằng phương thức thô sơ: vận chuyển tiền mặt từ miền Bắc vào bằng đường bộ theo đường dây 559, đường thủy theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển và quá cảnh sang Campuchia bằng đường hàng không. Theo cách này, mỗi khi đưa tiền đi, ông Hai Hùng (cố Thủ tướng Phạm Hùng) điện gọi ông Thùy Vũ, phụ trách cơ quan đại diện cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Phnom Penh về Hà Nội. Cán bộ B.29 mang lệnh của ông Hai Hùng đến Cục Ngoại hối nhận tiền, rồi chở về, gói gém dưới dạng hàng mẫu cho Thùy Vũ mang sang Phnom Penh, giao lại cho người của ông Thăng Long (Mười Phi – tức Nguyễn Văn Phi ) đưa về miền Nam, mỗi lần mấy triệu USD. Lại có lần, ông Lê Hoàng, Cục phó Cục ngoại hối, phái viên của B.29 một mình ôm cặp ngoại giao đựng hơn 3 triệu USD mua từ Ngân hàng Thụy Sỹ, quá cảnh Matxcova về Hà Nội an toàn.
Chuyển tiền mặt có nhiều khó khăn, tiềm ẩn rủi ro, chỉ cần một mắt xích trong đường dây bị đứt sẽ gây tổn thất không nhỏ cho cả hệ thống, chưa kể trên đường đi, có lần xe của đoàn 559 chở “hàng Z” bị máy bay địch ném bom, mất hàng triệu USD. Ban Tài chính đặc biệt đã chuyển hướng, bắt đầu đánh thông đường công khai bằng cách chuyển một số chủng loại hàng hóa gọn nhẹ, dễ quy đổi ra tiền mặt.
Năm 1965, ông Ba Châu (Lữ Minh Châu) được cử vào chiến trường, tổ chức triển khai phương án thanh toán đặc biệt qua hệ thống ngân hành nước ngoài. Ba Châu đã tốt nghiệp đại học ngành tài chính – ngân hàng tại Liên Xô năm 1964, nắm vững nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. Đi bộ theo đường Trường Sơn hơn 2 tháng trời, người đàn ông gày gò, bị cắt hai phần ba dạ dày đã vào đến chiến trường khu Năm, rồi sang Campuchia, “lặn luôn trong Việt kiều”. Suốt từ đó đến năm 1975, hơn 10 năm hoạt động trong lòng địch, ông Ba Châu cùng các đồng chí của mình lập nên một đường dây buôn tiền độc đáo, có một không hai trong lịch sử.
Ông Lữ Minh Châu và vợ xuất hiện như một nhân chứng trong chương trình “Như chưa hề có cuộc chia tay”Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục, trực tiếp là ông Phạm Văn Xô (Hai Xô), ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Trung ương Cục, Chủ tịch hội đồng cung cấp tiền phương miền Nam, việc phối hợp giữa Hà Nội, Sài Gòn, Phnom Penh và các đầu mối ở nước ngoài được thiết lập chặt chẽ, bài bản. B.29 đã huy động hơn 200 cán bộ, nhân viên Ngân hàng Ngoại thương ở trong nước và nước ngoài, sử dụng một hệ thống hơn 200 ngân hàng nước ngoài trên khắp thế giới để thực hiện nghiệp vụ đặc biệt: Chuyển tiền cho miền Nam đánh Mỹ.
Để thực hiện việc chuyển khoản, ta được một số thương nhân hỗ trợ, trong đó có Tư Trần An, một thương nhân Hoa Kiều giàu có. Trần An là đầu mối buôn vàng lớn ở Chợ Lớn, chuyên nhập vàng từ Hồng Công nên cần có nguồn ngoại tệ kí gửi tại đó để thanh toán cho những chuyến nhập vàng. Trước đây ông Trần An làm việc tại Ngân hàng Đông Dương Sài Gòn, chuyên về thu đổi ngoại tệ nên rất am hiểu thị trường, lại có hệ thống thông tin, vận chuyển riêng rất an toàn. Tiền bán vàng của Trần An được chuyển cho Dân Sanh, người của N.2683 rồi chuyển về chiến khu. Sau đó, ta chuyển trả tiền cho Trần An theo tài khoản ở Hồng Công theo quy ước riêng. Ngoài Trần An còn có đảng viên Năm Tấn, giám đốc công ty Tân Á, một công ty lớn có uy tín trên thương trương Campuchia và trong giới kinh doanh Hoa kiều. Nói thì đơn giản vậy nhưng giữ được an toàn bí mật những mối “làm ăn” này trong hàng chục năm là một kỳ tích không nhỏ và những thương gia trượng nghĩa như Trần An đã cộng tác với ta không hẳn chỉ vì lợi.
Tiền chuyển về Sài Gòn được “chế biến” thông qua các tổ chức bình phong của ta như Công ty Phương Mai, một hãng buôn lớn do ông Dân Sanh phụ trách. Có lúc ông Dân Sanh đã dùng cả đoàn xe vận tải 40 chiếc và 2 tàu cận duyên của hãng để vận chuyển tiền. Ngoài ra còn có hàng loạt kho chứa bí mật ở khắp nơi.

CUỘC GIẢI CỨU NGOẠN MỤC

Đầu năm 1970, nhờ Tư Năng, Việt kiều làm việc trong một nhà in ở Campuchia, ta nắm được tin chính phủ Campuchia chuẩn bị đổi tiền, cùng với đó là những dấu hiệu về một cuộc đảo chính lật đổ Quốc trưởng Sihanouk. Nhận định đây mà màn mở đầu thực hiện âm mưu làm suy yếu lực lượngta khi địch đánh hơi thấy ta đang nắm giữ một lượng lớn tiền riel không nhỏ, ta khẩn trương gom tiền riel từ khắp các chiến trường, chuyển sang công ty Tân Á tại Phnom Penh. Dù thời gian gấp gáp, công việc thu gom tiền vẫn được tổ chức rất tốt, trừ tiền ở B3 biên giới Tây Nguyên không đưa về kịp, mất khoảng 4-5 triệu riel.
Ngày 24/2/1970, Chính Phủ Campuchia ra lệnh đổi tiền. Thông qua Công ty Tân Á, toàn bộ số tiền của ta đã được đổi, nhưng ngày 18/3/1970, Lon Nol làm đảo chính lật đổ Quốc trưởng Sihanouk, mở cuộc tàn sát Việt kiều quy mô lớn chưa từng có, đập phá Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một số lượng tiền riel rất lớn và hàng triệu USD có nguy cơ mất sạch do còn kẹt lại Tân Á.
Ông Ba Châu đã tổ chức đào hầm ngay tại nhà kho Công ty Tân Á, chỉ trong hai ngày, toàn bộ số tiền riel và USD đã được chôn giấu cẩn thận dưới một nên xi măng chịu được xe tải nặng. Những ngày này, do thiếu tiền, bộ đội ở căn cứ phải giảm 50% khẩu phần ăn. Mãi đến ngày 11/4/1970, số tiền trên mới được chất lên 2 xe tải chở mắm bò hóc, xuyên thủng vòng vây của địch, về tới nơi an toàn. Sau đó, trải qua nhiều nguy hiểm, Ba Châu về được Sài Gòn, hoạt động trong lòng địch cho đến ngày giải phóng.

ĐOẠN KẾT

Sau ngày miền Nam giải phóng Ban Tài chính đặc biệt giải thể, cán bộ N.2683, B.29 nhận nhiệm vụ khác. Các ông Mười Phi, Ba Châu và nhiều đồng chí trong “đường dây buôn tiền” trở thành cán bộ chủ chốt của ngành Tài chính – Ngân hàng. Các ông đã góp phần phá bỏ sự trì trệ của cơ chế bao cấp, nhất là trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, đưa nền kinh tế đất nước chuyển sang giai đoạn đổi mới. Đầu tháng 6/1986, ông Lữ Minh Châu được bổ nhiệm làm Bộ trưởng, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữa lúc nền kinh tế lâm vào thảm cảnh do hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài cộng với sai lầm trong chính sách giá – lương – tiền, lạm phát lên đến 774.7%. Bằng tài năng, kinh nghiệm của mình, trên cương vị người đứng đầu ngành Ngân hàng đất nước, ông Ba Châu đã đề xuất nhiều biện pháp góp phần đẩy lùi lạm phát. Năm 1987, tỷ lệ lạm phát còn 223,1%, sang năm 1989 chỉ còn 34,7%.
Vì nhiều lý do, sau hàng chục năm chiến công của “đường dây buôn tiền” có một không hai mới được chính thức công nhận. Ngày 28/4/2009, Chủ tịch nước đã quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Ban Tài chính đặc biệt thuộc Trung ương Cục miền Nam (Bí số N.2683) thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phòng B.29 (Quỹ đặc biệt) thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhiều người trong đường dây đã không còn sống đến ngày nay. Thế nhưng chiến công của họ còn mãi trong lịch sử dân tộc.

Từ năm 1965 đến 1975, Ban Tài chính đặc biệt đã tiếp nhận và chuyển tiếp vào chiến trường hơn 678 triệu 700 nghìn USD, gồm hơn 262 triệu là tiền viện trợ, hơn 24 triệu là tiền của các tổ chức và cá nhân quốc tế, Việt kiều yêu nước ủng hộ, 21 triệu là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ, gần 7,5 triệu là lãi từ tiền dự trữ cho chiến trường đến sau ngày giải phóng.

Theo tài liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
____________________________________
Nhân trong bài viết có đề cập đến ông Phạm Văn Xô (Hai Xô), Dân Luận xin đăng lại một lá thư được cho là của ông Phạm Văn Xô tố cáo ông Lê Đức Anh vào năm 2005, trước khi ông Phạm Văn Xô mất:

THÊM MỘT TIẾT LỘ VỀ LÊ ĐỨC ANH CỦA CÁN BỘ CÁCH MẠNG LÃO THÀNH PHẠM VĂN XÔ – ĐỒNG VĂN CỐNG – NGUYỄN VĂN THI

LTS Thông Luận: Sau đây là nguyên văn một thư của ba nhân vật lịch sử của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đó là các ông Hai Xô (95 tuổi), Bảy Cống (87 tuổi) và Năm Thi (85 tuổi). Các vị này nói ra những điều họ biết về nhân vật Lê Đức Anh, con người có quyền lực nhất, hầu như quyết định tất cả, tại Việt Nam trong 15 năm qua sau khi Lê Đức Thọ qua đời. Giá trị của tài liệu này là ở chỗ nó do những người trong cuộc, biết rõ về ông Lê Đức Anh và một phần nào đó quyết định giai đoạn đầu của sự nghiệp của nhân vật này. Độc giả không khỏi thắc mắc tại sao ông Lê Đức Anh chỉ được kết nạp vào đảng cộng sản tháng 4-1945 mà ngay sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945 đã là một cấp chỉ huy khá quan trọng ? Mâu thuẫn này, nếu có thể gọi là mâu thuẫn vì tình hình lúc đó rất phức tạp, càng nói lên sự trung thực của những điều họ viết ra, biết sao nói vậy, không thêm bớt.
Qua những điều họ viết ra thì Lê Đức Anh là một nhân vật rất thủ đoạn và nhẫn tâm, tuy không phải là người lãnh đạo tài ba. Nhân vật Lê Đức Anh có rất nhiều bí ẩn. Lên chức rất nhanh trong giai đoạn đầu, năm 1956 đã là thượng tá tham mưu phó quân khu Hữu Ngạn (do thiếu tướng Trần Độ làm chính ủy), được gửi vào miền Nam từ 1960 với quân hàm đại tá, ông đã bị thất sủng, không được thăng chức trong suốt 15 năm chiến đấu tại miền Nam với chức vụ tư lệnh quân khu 9. Sau ngày 30-4-1975, ông bỗng nhiên được Lê Đức Thọ, con người nắm hầu hết quyền lực trong đảng cộng sản, đặc biệt chiếu cố, được thăng đột ngột lên trung tướng không qua cấp thiếu tướng, rồi trở thành đại tướng, ủy viên bộ chính trị năm 1982. Từ đó ông trở thành tay mặt của Lê Đức Thọ. Từ đại hội 7, ông trở thành nhân vật quyền lực nhất Việt Nam, thay thế Lê Đức Thọ.
Lê Đức Anh đã đóng vai trò quyết định trong việc cản trở tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. có thể nói nếu không có Lê Đức Anh thì đợt đổi mới bắt đầu từ cuối năm 1986 với tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tiếp tục và lịch sử Việt Nam đã thay đổi. Như vậy Lê Đức Anh đúng là một nhân vật lịch sử, dù là một nhân vật lịch sử rất tác hại cho đất nước. Hiện nay Lê Đức Anh dù không còn nắm một chức vụ chính thức nào, vẫn là người đứng đầu phe chống dân chủ, đang khống chế đảng cộng sản. Địa vị của Lê Đức Anh tương tự như Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc trong những năm cuối đời. Nhưng Lê Đức Anh không có cái tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình.
Từ năm năm qua, Lê Đức Anh là đối tượng của những đả kích phẫn nộ từ những người dân chủ và những đảng viên lão thành cao cấp của đảng cộng sản. Lê Đức Anh sẽ còn kiểm soát được tình hình đến bao giờ ? Điều chắc chắn là ông đã mất hầu hết uy tín và không còn là một chỗ dựa cho phe bảo thủ chống dân chủ nữa. Trần Đức Lương, người được ông chỉ định kế vị sẽ không thể khống chế đảng cộng sản được nữa sau khi ông qua đời. Phe bảo thủ sẽ không thể duy trì được và tình hình Việt Nam chắc chắn sẽ có thay đổi lớn.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005
Kính gởi:
– Bộ chính trị
– Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
– Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9
Đồng kính gởi :
– Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
– Đại tướng Võ Nguyên Giáp
– Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
– Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương
Chúng tôi gồm:
1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam – trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng ; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp ; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp ; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.
Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây:
Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp ; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3 ; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.
Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là “một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng” nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.
Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.
Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.
Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau:
1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là “cai lé”, do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande ?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.
Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời : “Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu”.
Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : “Nghe người ta nói cậu là surveillant ?”. Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp : “Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì) ?”. Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời : “Tôi làm công chức cho đồn điền”.
Đến Đại hội đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam Bộ cùng dự đại hội, sinh hoạt trong đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: “Sao cậu khai là công nhân?”. Lê Đức Anh ấp úng trả lời: “Họ ghi sai, tôi là công chức!”.
2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi ban cán sự đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của mặt trận Việt Minh.
Do man khai đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước!
Đầu năm 2002, để tiếp tục “hợp thức hóa” đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề “Đồng chí Lê Đức Anh” vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được “nhân chứng lịch sử” nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận “Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (bằng Thành Chung) và vào đảng năm 1938!”.
3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.
Trong cuộc đảo chánh Nhật-Pháp ngày 9-3-1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam Kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y!
Tháng 9-1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn!
4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.
Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc thiết bị, vật tư, lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam Bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó, Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong ba ngày đêm liền. Nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng chi đội I Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).
5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.
– Về chính trị: ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương “đánh địch ngầm” do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.
– Về quân sự: đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương “trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn”. Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là “tàn quân” Pôn Pốt!
Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương “khóa chặt biên giới”, “xây dựng tuyến phòng thủ biên giới” với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không “khóa chặt” được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.
Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính !
Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những “hoạt động du kích” của “tàn quân Pôn Pốt”. Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719 ! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do “tinh giản biên chế ở chiến trường !”.
Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước !
6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội : Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch! Đ/c Đồng Văn Cống nói: “Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết ; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch? Tôi không tán thành”.
Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!
Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức!
Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng!
Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.
Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm !
Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.
Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận : khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu : “Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng!”.
Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là “ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào!”.
Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là “không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây”.
Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố ; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!
Chúng tôi cho rằng: không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.
Đây không phải là “chuyện ngày xưa” của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu!
Không thể vin vào lý do : “ổn định nội bộ” mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói: “Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng!”. Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.
Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo: “Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn”. Tình hình trong Nam cũng vậy.
Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.
Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.
Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta!
Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời!
Xin cám ơn.
Phạm Văn Xô
Địa chỉ : 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
TP. Hồ Chí Minh – Điện thoại : 8.991300
Đồng Văn Cống
Địa chỉ : 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
TP. Hồ Chí Minh – Điện thoại : 8.447328
Nguyễn Văn Thi
Địa chỉ : 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
TP. Hồ Chí Minh – Điện thoại : 8.655878
Nguồn: e-Thông Luận

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: