80 năm trước thực dân xét xử ra sao? Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông năm 1931

Phiên tòa lịch sử xét xử Phan Bội Châu
Đối Thoại: Phiên tòa CSVN cưỡng chế TS Cũ Huy Hà Vũ vào tù 7 năm có nhiều điều cần ghi vào lịch sử đảng CSVN:
Một phiên tòa không cần nhân chứng
Một phiên tòa không cần vật chứng
Một phiên tòa không cần luật sư
Và tệ hại hơn nữa, theo như cáo giác của đảng CSVN, một số quan điểm của TS Cù Huy Hà Vũ liên hệ đến đảng CSVN nhưng các thành phần xét xử đều là đảng viên cao cấp của đảng CSVN. Nguyên tắc “lợi ích tương phản” đã bị vi phạm thô bạo.
Để giúp cho đảng CSVN nhớ lại các phiên tòa lịch sử trong thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng VN, Góc nhìn hàng tuần đăng lại 2 phiên tòa lịch sử : Phiên tòa xử Hồ Chí Minh và phiên tòa xử Phan Bội Châu của tác giả Bùi Quang Minh trên trang nhà “Chúng Ta”
80 năm trước thực dân xét xử ra sao?
Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông năm 1931
Bùi Quang Minh (tổng hợp)
Chungta.com
10:49′ AM – Chủ nhật, 03/04/2011

Chungta

Câu chuyện lịch sử năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông, định dẫn độ cho nhà cầm quyền Pháp để lấy tiền, nhưng sau đó đã bị thất bại thảm hại trước sự giúp đỡ vô tư đầy lòng nhân ái của bạn bè quốc tế. Xin đăng tải một số thông tin về việc bắt giữ, việc xét xử và bào chữa cho Nguyễn Ái Quốc để thấy được công lao của gia đình vị ân nhân – luật sư Loseby, cộng sự của ông đối với một người nước ngoài không quen biết, không tiền để trả thù lao và việc xét xử tại tòa của thực dân Anh 80 năm trước…

Đường phố Hương Cảng năm 1931

Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị thống nhất các tổ chức Đảng tại Cửu Long, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đi Xiêm, Malaysia, Singapore rồi quay lại Thượng Hải hoạt động cách mạng. Ông ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Lung, Cửu Long – Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.

Ngày 30/4/1931, mật thám Pháp tại Sài Gòn bắt được một số người “tình nghi cộng sản” trong đó có Nguyễn Thái, sau này được biết là “Thư ký Công hội Nam kỳ”, Xứ ủy viên. Khám trong người Thái, chúng bắt được thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 24/4/1931. Tiếp đó, mật thám Anh tại Singapore đã bắt được Serge Lefranc, phái viên Quốc tế Cộng sản đi công tác Đông Nam Á. Trong giấy tờ của Serge Lefranc có địa chỉ “186 Tam Lung – Hongkong”. Mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông đã mặc cả những điều kiện có lợi cho cả hai bên để vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ ở địa chỉ trên ngày 6/6/1931. Lúc đó, chúng chưa nắm chắc đó là ai và chỉ biết theo logic đó phải là người quan trọng chống lại nước Pháp. Nếu bắt được Nguyễn Ái Quốc thì Pháp sẽ cử tàu Angiê sang áp giải ông Nguyễn về Đông Dương, nơi một án tử hình vắng mặt ông của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929).
Thường lệ, ở HongKong nếu có việc bắt bớ thì báo chí sẽ “săn” tin và đưa ngay lên báo. Nhưng chính quyền HongKong trong lần bắt này đã cấm phương tiện thông tin báo chí đưa tin. Cảnh sát Anh sau khi đưa ảnh đối chiếu, đã điện cho Toàn quyền Đông Dương biết “Một người mang tên Tống Văn Sơ – chắc là Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt sáng ngày 6/6“.
Tống Văn Sơ được giam tại nhà tù ở Victoria, thủ phủ của Hồng Kông. Nhà giam có ba tầng, mỗi tầng hai dãy xà lim… bề cao ba thước tây, bề ngang chỉ hơn một thước, bề dọc không đầy hai thước… chỉ vừa một người nằm xiên xiên. Cao chót vót trên đầu tường chỉ có một cửa sổ nhỏ hình nửa mặt trăng, xung quanh bịt song sắt và lưới sắt bưng bít. Cửa xà lim bằng ván gồ dày độ một gang tay và bọc sắt. Trong ngày bị bắt đưa vào Sở cảnh sát, Tống Văn Sơ đã gặp Hồ Tùng Mậu vừa từ tù bước ra, được thả và trục xuất và đã kịp đưa mắt ra hiệu. Nhờ ngày đó, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế Cứu tế đỏ của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản đã đến gặp luật sư Loseby (Francis Henry Loseby) – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ, Sở cảnh sát HongKong buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931). Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.
Ông Loseby chưa quen biết Tống Văn Sơ nhưng với lương tâm nghề nghiệp, ông tự coi mình có nghĩa vụ bảo vệ người Cách mạng Đông Dương này. Do kiên trì đề nghị nhiều lần, luật sư mới gặp được và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao. Sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: “Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền“. Luật sư nói: “Tôi sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy nói, cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…và rằng ông biết mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…”
Khi hỏi những điều cần thiết tối thiểu để lập hồ sơ đưa vụ này ra Tòa án, Loseby cùng Tống Văn Sơ hình dung được mưu đồ và tính toán của mật thám Anh – Pháp. Sở dĩ, chúng bắt khẩn cấp Tống Văn Sơ không có lệnh vì theo như chúng dự tính thì không cần giấy phép bởi nếu để lại bằng chứng trên giấy tờ sẽ không có lợi cho chúng sau này. Nếu đưa được Tống Văn Sơ xuống tàu dẫn về Đông Dương thì mọi chuyện sẽ giữ được bí mật, dù cho luật sư hay ai tìm cách cứu cũng đã muộn, không thể xoay chuyển được nữa.

Luật sư Lô-dơ-bi, ảnh chụp năm 1957

Trở về, Loseby bàn bạc kỹ với người phó của mình – luật sư J.C. Jenkin, người cộng sựthay mặt ông bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ và kể chuyện về người bị giam giữ cho vợ của mình nghe. Bà vợ luật sư mua quà, thuốc men trực tiếp vào trong ngục thăm Tống Văn Sơ. Những lần sau đó, qua sự giới thiệu của bà vợ luật sư, có nhiều người khác nữa cũng đã đến thăm Tống Văn Sơ, trong số họ có cả bà Stella Benson vợ phó Thống đốc Hồng Kông. Và thật lạ lùng, sau mỗi lần gặp Tống Văn Sơ, sự quý mến, khâm phục của mỗi người dành cho người thanh niên Việt Nam lại tăng lên rất nhiều.

Âm mưu bị bại lộ, uy tín của chính quyền Anh ở Hương Cảng sẽ bị tổn thương. Chính bởi thế, chính quyền Hương Cảng một mặt cố ngăn chặn không cho luật sư Loseby tiếp cận sớm với Tống Văn Sơ, mặt khác, họ gấp rút hợp pháp hóa việc bắt ông Tống bằng cách ký lệnh bắt Tống Văn Sơ vào ngày 11/6 (năm ngày sau khi bị tống vào tù) và ngày 12/6 coi như bắt chính thức Tống Văn Sơ.
Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ nhưng đã bị đẩy vào thế bị động. Theo luật nước Anh, sau khi bắt người trong 14 ngày phải đem xử án, nếu không, phải trả tự do cho họ. Nhưng chính quyền HongKong đã giam ông quá hạn rồi nhiều lần ký lệnh giam thêm. Dưới sức ép của dư luận, của những phương tiện thông tin báo chí, luật sư Loseby đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử công khai trước Pháp viện tối cao. Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai.
Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31/7/1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 19/9/1931). Trong các phiên tòa, ngoài các chánh án, phó chánh án, công tố viên, luật sư bào chữa còn có đại diện báo chí, dân chúng ít được đến dự. Họ cho đây là một vụ án “quan trọng nhất từ xưa đến nay chưa từng có ở Hồng Kông“. Các báo chí Anh ở Hồng Kông không bị kiểm duyệt nên nhiều tờ như tờ “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng”, “Buổi sáng HongKong”, “Bưu điện HongKong”… đã đăng bài tường thuật các phiên tòa xét xử rất chi tiết, đòi bảo vệ công lý, đòi thi hành đúng pháp luật.
Báo L’Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp, ra ngày 19/6/1931 đăng tin về việc nhà cầm quyền Anh bắt nhà cáchmạng An Nam Nguyễn Ái Quốc (ở đây, báo L’Humanité có sự nhầm lẫn là bắt Nguyễn Ái Quốc tại Thượng Hải)

Báo L’Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp, ra ngày 19/6/1931 đăng tin về việc nhà cầm quyền Anh bắt nhà cáchmạng An Nam Nguyễn Ái Quốc (ở đây, báo L’Humanité có sự nhầm lẫn là bắt Nguyễn Ái Quốc tại Thượng Hải)

Tham gia tranh tụng tại phiên tòa có luật sư J.C Jenkin và luật sư Loseby. Vì trước Tòa, chỉ có một luật sư được phát biểu ý kiến nên luật sư Loseby đã chuẩn bị sẵn bài cãi rồi ủy nhiệm cho luật sư Jenkin phát biểu.

Luật sư Jenkin là một trí thức rất thông minh và hùng biện, đồng thời đã hết lòng bào chữa cho Tống Văn Sơ.
Trong phiên tòa thứ nhất mở ngày 31/7/1931, chính quyền Hương Cảng đã không đưa ông Tống ra Tòa. Sau vài thủ tục đơn giản, chánh án đã luận tội: “Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô, phái viên của Đệ tam Quốc tế, đến HongKong định phá hoại chính quyền ở đây. Vì lẽ đó, sẽ bị trục xuất khỏi HongKong vào ngày 18 tháng 8 do chiếc tàu thủy Angiê của Pháp chở về Đông Dương“.
Luật sư Loseby chỉ thị cho luật sư Jenkin phản đối và đòi hỏi Tòa phải đưa Tống Văn Sơ ra trước Tòa.
Đến buổi thứ hai, chính quyền buộc phải đưa ông Tống ra hiện diện tại Tòa nhưng hai tay lại bị xích.
Thấy bị cáo vào phòng xử án trong tư thế như vậy, luật sư Loseby rất tức giận nhưng vì không được quyền nói nên ông liếc nhìn sang luật sư Jekin ra hiệu.
Vốn thông minh, nhanh nhạy, luật sư Jenkin liền đứng ngay dậy chỉ vào đôi tay của ông Tống đang bị xích rồi hướng về phía quan tòa, giọng rất gắt gao rằng: “Khi bị cáo ra tòa là đứng trước công lý, thân thể phải hoàn toàn tự do. Nay chưa biết bị cáo can vào tội gì, tại sao chính quyền lại đã dùng đến nhục hình xích tay trong phòng xử án!”
Ông nói rất mạnh mẽ, đanh thép, trong khi đó, Tống Văn Sơ đứng trước vành móng ngựa giơ cao hai tay trước mặt quan tòa, lắc mạnh. Tiếng xích kêu loảng xoảng hòa cùng lời lẽ hùng biện của luật sư tạo nên một bầu không khí náo động trong phòng xử án. Mọi người ồn lên “sai, sai, cởi trói, cởi trói ngay…” Quan tòa đuối lý, sượng sùng, xin lỗi và ra lệnh đưa bị cáo ra ngoài để tháo xích ra.
Sau đó, luật sư Jekin tiếp tục hùng biện cho đến khi ông Tống trở lại vành móng ngựa, hai tay tự do, lúc đó luật sư mới ngồi xuống.
Jenkin mạnh mẽ tố cáo chính quyền Hồng Kông đã vi phạm luật pháp trong việc bắt trái phép Tống Văn Sơ ngày 6/6/1931. Tòa nhận làm như thế là sai và bào chữa là sau đó đã có lệnh bắt rồi.
Jenkin lại nói: Lệnh bắt giam lần thứ 2 cũng sai sót. Vì lệnh bắt là thi hành đối với người đang tự do. Nhưng lệnh bắt Tống Văn Sơ lại thi hành khi Tống Văn Sơ đang ngồi nhà tù. Không ai lại bắt một người đang ở trong trạng thái mất tự do!
Quan tòa đành chấp nhận, cử tọa vỗ tay hoan hô luật sư!
Điều sai thứ ba là chính quyền đã giam trái phép Tống Văn Sơ. Luật chỉ cho phép giam giữ 14 ngày nếu không luận được tội, phải thả người bị bắt. Như vậy, theo luật, Tống Văn Sơ phải được trả tự do từ ngày 2/7, mà hôm nay đã là 1/8, vẫn còn trong nhà tù…
Tiếng hoan hô lại vang lên!
Ông Jekin yêu cầu:
– Thưa ngài Alabaster, đại diện chính quyền HongKong, ngày có công nhận như vậy không?
Alabaster, trả lời:
– Tôi không thể công nhận điều gì khi chưa có chỉ thị. Xin ngài đừng truy ép tôi…
Chánh án Joseph Kemp lên tiếng:
– Không ai phủ nhận điều đó. Tống Văn Sơ đã thề rằng mình bị bắt ngày 6/6, chúng ta kết luận là Tống bị bắt ngày 6. Còn ngày 12, theo Tống không có việc bị bắt lại.
Phó chánh án Lindsell nói tiếp:
– Tôi thấy cần nói rõ là đã có một hành động gọi là bắt vào ngày 12 trong khi Tống đang bị giam.
Luật sư Jenkin kết luận:
– Tôi quả quyết rằng, đương sự Tống Văn Sơ, khách hàng của chúng tôi, từ ngày 6/6 đến ngày 12/6 đã bị bắt giam giữ một cách trái phép, bất hợp pháp. Việc đó đã quá rõ. Hơn nữa đương sự lại không được tiếp xúc với thẩm phán. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc giam giữ Tống Văn Sơ là sai trái, là sai pháp luật của nước Anh. Chính quyền địa phương còn phạm luật trong việc khám xét nhà của Tống Văn Sơ vì vu cho Tống là tàng trữ “sách phản loạn”.

Mà, không phải sách báo phản loạn sao lại có thể bắt giam chủ nhân của nó là Tống Văn Sơ vào tù?

Bị dồn ép, Tòa án rung chuông tuyên bố nghỉ. Hôm sau, cả HongKong và thế giới được thông tin về vụ xử án “ly kỳ” này qua các báo chí. Báo bán rất chạy.
Phiên tòa thứ hai, dường như cảm thấy quá đuối lý, quan tòa liền xoay chuyển tình hình bằng cách cho rằng việc bắt, giam Tống Văn Sơ chỉ là sai sót về thủ tục pháp lý, còn bản thân Tống Văn Sơ trong lời cung khai đã tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, tức là lãnh tụ cộng sản An Nam.
Bằng chứng là bản cung khai do một người Anh lão luyện, đầy kinh nghiệm tố tụng là William Thomson, Phó Bí thư Hoa vụ hỏi cung Tống Văn Sơ ngày 14/7/1931. Ở dưới bản cung có ký tên tuyên thệ của W.Thomson. Chánh án đã trưng ra trước tòa bản cung khai này, nguyên văn:
“ – Hỏi: (bằng tiếng Anh) Tên là gì?
– Đáp: Tống Văn Sơ (tên khác là Lý Thụy, tên khác nữa là Nguyễn Ái Quốc).
– Hỏi: Bao nhiêu tuổi?
– Đáp: Ba mươi sáu tuổi.
– Hỏi: Sinh quán ở đâu?
– Đáp: ở thị trấn Đông Hưng – Liêm Châu – Quảng Đông – Trung Quốc.
– Hỏi: Người ta bảo rằng anh là một người cộng sản đang tuyên truyền cộng sản, có thành tích bất hảo. Sự có mặt của anh ở Hồng Kông là một nguy hiểm cho an ninh trật tự. Anh có muốn nói gì để khỏi bị trục xuất không?
– Đáp: Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi theo chủ nghĩa dân tộc, để xóa bỏ chế độ áp bức của Pháp. Chúng tôi có ba phái: Phái thân Nhật, phái thân Đức, phái muốn trông cậy vào nước Anh…. Tôi không hiểu vì sao tôi bị bắt. Tôi có ở Pháp vào những năm 1920-1923, có lẽ cả năm 1924. Tôi không nhận cái biệt danh Nguyễn Ái Quốc (Đông Dương). Tôi có thuê nhà 186 Tam Lung của một người tên là Vương, ông này đã rời Hồng Kông vào tháng 4. Tôi đến ở và trả tiền thuê nhà. Ông Vương là nhà buôn, không phải là nhà cách mạng… Tôi có ở Thượng Hải, cách đây nhiều năm rồi.
– Hỏi: Anh ở Hồng Kông từ bao lâu ?
– Đáp: Độ bảy tháng
– Hỏi: Có quen ai ở đây không?
– Đáp: Không.
– Hỏi: Anh có gì làm chứng?
– Đáp: Không.
Rõ ràng, theo bản cung trên thì Tống Văn Sơ đã tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc – mục đích cuối cùng của thực dân Pháp – Anh.
Ngay lập tức, Jenkin lên tiếng đọc tờ khiếu nai của Tống Văn Sơ rồi vạch trần chi tiết những sai phạm trong việc hỏi cung và nghiêm trọng hơn, chính quyền đã làm giả bản hỏi cung. Cụ thể, trước tiên, đối chiếu với luật pháp Anh quốc lúc đó, nhà chức trách sau khi bắt một người nào đó phải tiến hành hỏi cung ngay sau 24 giờ, nếu sau ngày bắt là ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ, thì việc hỏi cung phải được bắt đầu ngay sau ngày Chủ nhật hay ngày lễ đó.
Nhân viên hỏi cung chỉ được quyền hỏi 7 câu hỏi in sẵn trên một tờ giấy, tuyệt đối không được hỏi ra ngoài phạm vi 7 câu hỏi gồm: Tên, tuổi, sinh quán, nghề nghiệp, thời gian cư trú, quan hệ xã hội, người và vật làm chứng. Nếu lời khai chưa rõ, người hỏi cung có thể đặt thêm một số câu hỏi nhưng tuyệt nhiên phải nằm trong nội dung 7 câu hỏi trên.
Ông Jenkin nói:
– Việc hỏi thêm ngoài 7 câu hỏi có sẵn thực chất là cuộc thẩm vấn thứ 2. Điều đó chứng tỏ rằng việc lấy cung, làm thủ tục cung đều trái luật…
Như vậy, trong trường hợp hỏi cung Tống Văn Sơ, nhà chức trách đã vi phạm về thời gian, nội dung và cuối cùng là thay bằng một bản cung giả. Cụ thể, cho mãi tới ngày 14/7, tức là 1 tháng 8 ngày, chính quyền mới tiến hành hỏi cung Tống Văn Sơ và lại đặt quá nhiều câu hỏi không nằm trong phạm vi 7 câu hỏi như luật pháp Anh quốc quy định.
Song điều quan trọng nhất là chính quyền đã đưa ra một bản cung giả trong đó gán ghép cho Tống Văn Sơ tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc. Bằng chứng là lá đơn tố cáo của Tống Văn Sơ nêu rõ rằng, bản cung mà ông Tống khai là do ông viết trực tiếp khi trả lời, còn bản cung giả thì lại được đánh máy lại và ghi thêm là ông Tống đã nhận rồi.
Tòa án đành nhận lỗi và lại rung chuông nghỉ.
Hôm sau, người ta đọc được trên báo những tin mới về vụ xử án. Tờ “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” cho biết “Tống Văn Sơ không công nhận lời ghi có tuyên thệ của Trợ lý thư ký Trung Hoa vụ Thomson. Lời ghi đó buộc được hiểu là một cuộc thẩm vấn và Tống Văn Sơ đã bị thẩm vấn ba lần. Tống Văn Sơ khiếu nại rằng viên chức thẩm vấn đã vượt quá quyền hạn của mình để hỏi những câu pháp luật không yêu cầu”.
Những phiên tòa tiếp sau, Jenkin lại đưa ra những hành vi trái phép của nhà chức trách Hồng Kông và nói rõ không thể kết án Tống Văn Sơ vào bất cứ tội gì. “Thứ nhất: tuyệt đối không có gì chứng tỏ rằng Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô. Thứ hai: Không có chứng cớ Tống Văn Sơ muốn phá hoại Hồng Kông. Thứ ba: cộng sản hay quốc gia, điều đó không phải là một tội lỗi trước luật pháp Anh“.
Bất chấp tất cả, chính quyền Hồng Kông vẫn chưa cam chịu thất bại.
Mở phiên tòa thứ 3 vào ngày 15/8/1931, Chưởng lý tòa tuyên bố:
– Nếu Tòa án chưa giải quyết được vấn đề đã nêu, thì có thể không cho tàu Angiê đón Tống Văn Sơ mà giao cho tàu “Tướng Métdanhgiê” để rời Hồng Kông vào ngày 1/9.
Luật sư Jenkin yêu cầu ghi vào biên bản:
– Nếu việc xét xử không hoàn thành, thì dù kết quả thế nào chăng nữa, Tống Văn Sơ cũng không bị không bị trục xuất trước khi tàu “Tướng Métdanhgiê” nhổ neo vào ngày 1 tháng 9 hay vào một ngày sau đó.
Tòa bị bất ngờ, người thì đồng ý, kẻ thì không. Chưa xét xử được gì mà giờ đã hết. Phải họp tiếp vào buổi chiều.
Vào phiên buổi chiều, Chưởng lý cho biết lệnh trục xuất Tống Văn Sơ đã được ký và ông ta đề nghị không họp nữa.
Luật sư Jenkin cũng tán thành. Nhưng chánh án lại muốn xử cho xong. Ông Jenkin vặn hỏi về lệnh trục xuất. Chánh án nói:

– Tôi đã đồng ý với ngài rằng Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất trước khi tàu “Tướng Métdanhgiê” rời bến…

Luật sư đã đấu tranh một cách rất mạnh mẽ, tiếp đó, tùy diễn biến tình hình, lúc thì cương quyết, lúc uyển chuyển sao cho có thể vô hiệu hóa được lệnh trục xuất kia. Ông đề nghị phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào ngày thứ năm 20/8.
Phiên tòa ngày 20/8 diễn ra rất căng thẳng. Vào phiên tòa, Chưởng lý tuyên bố là Thống đốc Hồng Kông đã ban hành lệnh trục xuất Tống Văn Sơ lần thứ hai vào ngày 15/8. Luật sư Jenkin rất ngạc nhiên hỏi lại Tòa và được biết tin đó là đúng. Luật sư hiểu ngay rằng trong phiên họp trước, biết rằng Tòa án không xử xong được vụ án Tống Văn Cơ, nên lệnh trục xuất đầu tiên ký vào ngày 12 tháng 8, đã không còn giá trị nữa, nên Thống đốc Hồng Kông buộc phải ký lệnh trục xuất lần thứ hai.
Ông Jenkin tuyên bố:
– Việc ban hành lệnh trục xuất thứ hai là phi pháp. Lệnh thứ nhất ký ngày 12 tháng 8 chưa được thi hành vì Tòa còn đang xét xử – phiên gần nhất là 17 tháng 8, thì đã có lệnh trục xuất thứ hai ký vào ngày 15, ban hành vào ngày 17, đúng ngày Tòa còn đang họp. Không thể có hai lệnh trong cùng một thời gian với cùng một con người, về cùng một sự việc. Chỉ có một cách là Tòa án phải hủy lệnh đó, nhận đã làm sai. Không ai có thể ra lệnh thứ hai khi lệnh thứ nhất chưa thực sự bị bãi bỏ. Và dù khi có lệnh thứ hai, thì trước đó Tòa phải ra lệnh hủy lệnh thứ nhất. Việc này Tòa đã không làm. Và cho dù Tòa án làm được ngay hôm nay thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể ra lệnh thứ hai vì theo luật pháp hiện hành thì khi một người đang được miễn tố vì bị giam trái phép thì không thể bị bắt lại vì cùng một nguyên nhân, đây còn là việc lừa dối. Vì ngày 15 tháng 7 là ngày thứ Bảy. Tôi cam đoan rằng Hội đồng hành chính Hồng Kông không họp vò ngày này, và nếu có định họp vào giờ khuya sau khi nghỉ ngơi cũng không đủ đa số…
Chưởng lý bác bỏ ý kiến của luật sư Jenkin và khẳng định là Hội đồng có họp.
Ông Jenkin thẳng thừng nói:
– Nếu Hội đồng có họp, tôi yêu cầu Tòa án cho mời Thống đốc Hồng Kông và các thành viên trong Hội đồng hành chính ra trước Tòa đối chất với luật sư, đồng thời đem biên bản buổi họp đó ghi ý kiến của mỗi thành viên về việc trục xuất Tống Văn Sơ.
Đây là một yêu cầu chính đáng và là quyền của luật sư. Theo luật pháp Anh, khi luật sư thấy cần phải gọi ai, mời ai ra Tòa để đối chất, Tòa phải đáp ứng yêu cầu ấy. Khi luật sư đòi hỏi bằng chứng, Tòa phải xuất trình bằng chứng.
Tòa bị lâm vào tình trạng “tiến thoái lưỡng na”… Vì thực ra, Hội đồng hành chính Hồng Kông không họp ngày thứ Bảy, đã không họp thì lấy đâu ra biên bản. Nay lại phải gọi từ Thống đốc đến các “ngài ủy viên Hội đồng” ra hầu tòa thì bẽ mặt quá…
Chánh án bèn tuyên bố tòa tạm nghỉ. Tòa mời luật sư đến để thương lượng. Khi Tòa họp lại, ông Jenkin tuyên bố không yêu cầu Thống đốc và các Ủy viên ra tòa nữa. Phiên tòa lại tiếp tục. Tòa vịn vào hai cớ để trục xuất Tống Văn Sơ: Một là, Tống Văn Sơ tức Lý Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc là cộng sản, là phái viên của Đệ tam quốc tế, đang hoạt động tuyên truyền nguy hại cho Hồng Kông. Hai là, Nguyễn Ái Quốc quê ở Đông Dương đã bị kết án tử hình năm 1929, nên chính quyền Đông Dương đã nhờ chính quyền Hồng Kông bắt giữ và trao trả.
Luật sư Jenkin nhắc lại những lập luận của ông để bác bỏ lý do thứ nhất.
– Phải khẳng định rằng không có một tài liệu, cơ sở vững chắc nào để kết luận Tống Văn Sơ là Nguyễn Ái Quốc, một người cộng sản. Cũng không có bằng chứng nào chứng minh Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô cũng như phái viên của quốc tế cộng sản.
Thời gian cư ngụ tại Hương Cảng, Tống Văn Sơ không hề vi phạm bất kỳ điều gì đối với quy định của pháp luật Anh quốc. Ngay khi khám xét, lục soát tại số nhà 186 đường Tam Lung nơi Tống Văn Sơ bị bắt giữ, cảnh sát cũng không hề thu được bất kỳ một tài liệu có liên quan đến cộng sản hay phản loạn gây nguy hại cho anh ninh Hương Cảng.
Về lý do thứ hai, luật sư đã kể ra một câu chuyện như sau:
– Năm 1858, vua nước Pháp sang thăm nước Anh thì bị mưu sát. Hồi ấy chính phủ Pháp đã yêu cầu chính phủ Anh trao trả cho Pháp một trong những người can tội này. Nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Anh bất giờ là Clarandon đã từ chối, với lý lẽ rằng “hoàn toàn không có một lý do gì buộc Nghị viện Anh phải thông qua quyết định trao trả phạm nhân cho nước ngoài về một vụ án chính trị”. Năm 1914, nước Anh có thi hành luật trao trả, trục xuất ngoại kiều vì can án chính trị nếu thấy cần thiết và chỉ thực hiện trong thời gian chiến tranh. Năm 1918, khi đại chiến thế giới kết thúc, luật ấy không còn được thi hành và trở lại với điều luật năm 1905. Hơn nữa, luật trục xuất năm 1914 chỉ thi hành ở chính quốc, chứ không thi hành ở các thuộc địa, nhượng địa như Hồng Kông. Về mặt bảo đảm an ninh, năm 1912, có luật cho phép trục xuất những ngoại kiều có “thành tích bất hảo”. Nhưng khách hàng của tôi, ông Tống Văn Sơ không hề vi phạm một điều gì về trật tự an ninh ở Hồng Kông. Vậy thì chính quyền Hồng Kông không thể trục xuất ông Tống được.
Luật sư kết luận:
– Không thể trục xuất một ngoại kiều không vi phạm trật tự an ninh, dù người ấy có trốn khỏi chính quốc của họ về một vụ án có tính chất chính trị…
Chưa trả lời được, Tòa án đành… bế mạc!

Những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp – Anh bước đầu đã bị các luật sư vạch trần, song chính quyền Pháp và Hương Cảng vẫn giữ chặt hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ.

Trong phiên tòa tiếp theo ngày 25/8, luật sư Jenkin đã phát biểu dài về vấn đề “chính trị phạm” có nghĩa là phạm nhân đã từng hoạt động trong một phong trào chung, vì mục đích chung phải lánh nạn sang một nước khác. Đó là trường hợp của Tống Văn Sơ. Tống Văn Sơ đã tham gia phong trào cách mạng vì cả dân tộc, do đó không “nằm trong diện bị trục xuất đã nêu ra trong các điều luật. Nếu trục xuất chính trị phạm như luật pháp của một nước nào đó – không phải là nước Anh – đó là một hành động “xấu xa và bẩn thỉu“.
Luật pháp rõ ràng. Bị cáo cũng đã tố cáo việc những người nhân danh luật pháp làm sai pháp luật. Luật sư cũng đã nêu rõ việc làm sai luật của chưởng lý, ủy viên công tố, của quan tòa, của Thống đốc, Hội đồng Thống đốc. Báo chí đã đứng về phía công lý, pháp luật tố cáo hành vi sai trái của Tòa án địa phương Hồng Kông, bảo vệ người bị xử trí oan.
Nhưng tất cả những điều trên không làm cho tòa án Hồng Kông thay đổi thái độ.
Trong phiên tòa thứ 8, ngày 12/9, Chánh án đã buộc phải thừa nhận 4 điểm:
1. Việc bắt Tống Văn Sơ là trái phép
2. Việc giam Tống Văn Sơ là trái phép.
3. Việc hỏi cung Tống Văn Sơ không đúng thủ tục.
4. Chính quyền Hồng Kông đã làm giả mạo tờ cung.
Song điều quan trọng nhất là việc trục xuất thì vị chánh tòa tuyên bố: Việc chính quyền Hương Cảng trục xuất Tống Văn Sơ là hợp pháp! Đây rõ ràng là kiểu “cả vú lấp miệng em”!
Luật sư Jenkin đã phản đối kịch liệt quyết định vô lý, sai trái của chính quyền Hồng Kông, là nhẫn tâm và độc ác. Ông tuyên bố chính thức chống án lên Cơ mật viện Hoàng gia Anh tại London do nhà vua Anh chủ tọa, quyết định. Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Denis Noel Pritt và Stafford Cripps đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ.
Theo luật sư Stafford Cripps, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền HongKong và Bộ Thuộc địa, nên đã tìm cách thoả thuận giữa luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh và luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận được trình và Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, bằng cách cho Người được tự do lựa chọn nơi mình đến. Ngày 28/12/1932, Tống Văn Sơ được tự do, song khi đi đến Singapore, Tống Văn Sơ lại bị buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19/1/1933, Người lại bị bắt giam.
Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Loseby và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc HongKong can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông.

Hồ Chí Minh tiếp gia đình luật sư Loseby năm 1960 khi mời các ân nhân của mình sang thăm Việt Nam

Một lần nữa gia đình luật sư Loseby lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Loseby, liên tục di chuyển chỗ ở 3-4 lần, cuối cùng ngày 22/1/1933, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi bằng chính chiếc cano công vụ của Thống đốc Pin do ông bà Loseby bí mật bố trí. Trước khi xuống ca-nô, vị khách dừng lại chào từ biệt ông bà Loseby và không quên nhờ ông bà chuyển lời cảm ơn tới Pin – quan thống đốc Hương Cảng. Tống Văn Sơ lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Đội trưởng cận vệ truyền lệnh của thống đốc, viên thuyền trưởng tàu Anhui đứng nghiêm chào và mời “vị khách quý” cùng viên thư ký lên tàu.

Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25/1/1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch. Sau gần 20 tháng bị giam giữ, lùng sục gắt gao, trải qua bao gian nan hiểm nguy, Tống Văn Sơ đã thoát khỏi âm mưu nham hiểm của kẻ thù bằng một cuộc vượt biển thần kỳ. Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.
Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương Cảng, luật sư Loseby vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền nghĩ ra một “diệu kế” là tung tin Tống Văn Sơ tức lãnh tụ An Nam Nguyễn Ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương Cảng.
Báo chí bắt được tin đó đã nhanh chóng cho đăng tải ngay. Chỉ mấy hôm sau tờ báo của Đảng Cộng sản Liên Xô Pravda cũng đã đăng tin buồn và Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại trường Đại học Xta-lin.
Trong buổi lễ này, có một số chiến sĩ cách mạng của ta đang có mặt tại Mạc-tư-khoa cũng tới dự và khóc thương.
Mấy hôm sau nữa, tờ Nhân đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp cũng đăng tin đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã mất tại Hương Cảng và TW ĐCS Pháp cũng làm lễ truy điệu trọng thể người đồng chí đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn Ái Quốc, ở trang cuối cùng họ đã ghi: “Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng”.
(Từ tư liệu của Lê Tư Lành, Nguyễn Văn Khoan)
Nguồn: Chungta.com

Phiên tòa lịch sử xét xử Phan Bội Châu

Bùi Quang Minh tổng hợp
Theo Chúng Ta
Sau cụ Phan, hai luật sư Larre va Bona, Luật sư do Pháp chỉ định làm nhiệm vụ bênh vực bị cáo, đã thay nhau cãi, chống đỡ cho cụ Phan. Bona còn nói thẳng, việc tha bổng cho Phan Bội Châu là một “hành động chính trị khôn khéo”: “Thưa các Ngài, các Ngài nên dung thứ cho cụ Phan Bội Châu, vì như vậy, chẳng những các Ngài đã làm được một hành động quảng đại đối với lương tâm, mà các Ngài còn làm được một hành động chính trị khôn khéo nữa, và do đó, người Pháp chúng ta, ai là kẻ thức giả cũng phải đem lòng mến phục các Ngài” (lời bào chữa của trạng sư Bona)
Ngày 30/6/1925, trên đường từ Hàng Châu về tới Quảng Châu sau khi viếng mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái (nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Merlin vào năm 1924 khi tên này trên đường quay về sau công du Nhật, ghé qua Quảng Châu), cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp-Anh tại ga Bắc Trạm, đưa vào tô giới Thượng Hải, bị giải về Hương Cảng rồi về Hải Phòng, sau cùng bị giam tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Ðể tránh việc làm cho dư luận quá xôn xao về tin Phan Bội Châu bị bắt, thực dân Pháp gắn cho ông tên tù quốc phạm là Trần Văn Ðức.
Thực dân Pháp âm mưu bí mật thủ tiêu Phan Bội Châu, nhưng việc bị bại lộ, nên phải đưa ra xử ở Tòa đề hình Hà Nội.
Trước đó, cụ đã bị kết án tử hình vắng mặt năm 1913 (trong một phiên tòa xử 3 ngày), sau hai vụ thành viên Việt Nam quang phục hội ném bom ở Thái Bình và Hà nội Hôtel. (13/4/1913 – Phạm Văn Tráng liệng tạc đạn giết chết tuần phủ tỉnh lỵ Thái Bình; 26/4/2913 – Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Túy dùng tạc đạn giết chết hai trung tá Pháp và sáu tên khác bị thương tại Hà nội Hôtel)
Hay tin Phan Bội Châu có thể bị án tử hình, phong trào vận động ân xá cho ông nổi lên rầm rộ. Đơn cử vài hoạt động:

  • Hội Thanh Niên Việt Nam in ra bốn ngàn lá đơn gửi đến các cơ quan chính phủ Pháp, các sứ thần liệt quốc ở Ba Lê, các tổ chức quốc tế yêu cầu can thiệp. Việt kiều ở Pháp họp đại hội bênh vực Phan Bội Châu, gởi điện tín kháng nghị hoặc yêu cầu tới những cơ quan có liên hệ đến vụ án Phan Bội Châu.
  • Để tranh thủ dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp, Phạm Quỳnh đã cho đăng trên tờ Indochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8).
  • Tháng 9/1925, trong dịp Varenne (Va-ren) sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền… Nguyễn Ái Quốc đã viết bài “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” nhằm mục đích cổ động phong trào đòi trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu, vạch trần chủ trương bịp bợm, xảo trá của chủ nghĩa thực dân Pháp, làm cho người Pháp tiến bộ thấy rõ tinh thần yêu nước của dân Việt Nam.
  • Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước, mức độ chưa từng thấy ở Việt Nam đòi thả Phan Bội Châu.

Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23/11/1925, Tòa Ðề hình nhóm xử dưới sự chủ tọa của viên giám đốc Brida, Ðốc lý Hà Nội là Dupuy và đại úy Bollie làm phụ thẩm, Boyer làm bồi thẩm và Arnoux Patrick làm lục sự. Hội đồng Đề hình cử luật sư Bona ở Hà Nội và luật sư Larre ở Hải Phòng biện hộ cho Phan Bội Châu. “Tội danh Hội đồng Đề hình Pháp buộc tội Phan Bội Châu là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình” là các tội bạo động, phá hoại chính phủ bảo hộ và phá rối trị an (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950).
Từ sáng sớm dân chúng đã lũ lượt kéo đến tòa án để theo dõi vụ xử công khai. Tòa án đầy người từ ngoài sân đến trong phòng xử.
Sau khi viên biện lý đứng lên buộc tội cụ Phan và yêu cầu kết án tử hình, thì nhà nho Nguyễn Khắc Doanh – một người thân hình nhỏ bé, mặt gân guốc len ra khỏi đám đông, xông thẳng ra trước vành móng ngựa, ngay trước mặt quan tòa, đòi chịu tù thay nhà chí sĩ, làm náo động phiên tòa và nói một câu: “Xin được chết thay cho ông“.
Trước những lời lẽ buộc tội gắt gao của Hội Ðồng Ðề Hình, Phan Bội Châu ung dung và chậm rãi đối đáp một cách rõ ràng khúc chiết. Ðể bênh vực cho hành động hợp lý và quang minh chính đại của mình.

Nước Nam cũng là một nước xưa nay chịu ở dưới quyền chuyên chế, dân tình khổ cực đã lâu. Vua quan đối với dân xa cách nhau, ức chế nhau, lại tệ dân tình không có cách gì thượng đạt. Nhờ có chính phủ bảo hộ là một nước văn minh, nói rằng sang khai hóa cho, tôi đã chắc rằng dân Giao Chỉ mấy ngàn năm đã đến kỳ mở mày mở mặt. Chẳng ngờ, chính phủ sang cai trị 20 năm mà chính sách không có điều gì thay đổi. Đến năm 1904 mà Trung, Bắc Kỳ chỉ có hai trường, trường Hà Nội và trường Huế, mà là trường chỉ dạy làm thông ngôn. Người du học không cho, lối thi cũ vẫn để, hình luật không chịu thi hành hình luật Pháp, quan tham, lại nhũng hối lộ công hành. Tôi là người Nam, tôi muốn đánh thức cho dân tộc Việt Nam. Tôi thấy thế sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu mà tôi, trong tay có mấy trăm vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh, lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến có, tàu bay có, thì có lẽ tôi hạ chiến thư, đường đường chính chính đánh lại với chính phủ thực.
Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng tiền, tay không có một tấc sắt, không thể lấy vũ lực mà phản đối được. Vậy tôi chỉ dụng văn hóa, nghĩa là trước thư lập ngôn để cổ đng nhân dân, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị. Chẳng ngờ chính phủ ngờ vực bắt bớ, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đoạt cái mục đích của tôi.
Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền góp sức để phái người đi du học, và làm sách gửi về cho nhân dân. Việc làm của tôi chỉ là dụng cái lưỡi và ngòi viết, mục đích của tôi chỉ là cải lương chính trị, cử động của tôi rất là chính đại quang minh.
Nếu tôi là người có tội thì tôi chỉ có 4 tội như sau:
1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không có ai phản đối, mà mình tôi phản đối, muốn cho nước Nam độc lập.
2. Nước Nam xưa nay là chính thể chuyên chế mà tôi muốn cho nước Nam thành một dân quốc.
3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.
4. Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái thiên chức khai hóa của mình. (Phan Bội Châu -Thân thế và thơ văn – của Thế Nguyên)
Tới đây tòa lại hỏi:
– Ông phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ hay là chính trị của nước Nam?
Cụ Phan đáp:
– Tôi phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ, chứ nước Nam có nước đâu và có chính trị đâu mà tôi phản đối. Ấy, tội tôi chỉ có thế, chính phủ chiếu luật gia hình bắt tội thế nào tôi cũng chịu.
Phan Bội Châu khẳng định ông chỉ đấu tranh bằng vũ khí văn hóa, và văn hóa cũng chỉ đơn thuần là sách, những bài luận và thơ văn. Mục tiêu đấu tranh cũng chỉ là cải lương về phương diện chính trị thuộc chế độ thống trị của Pháp: “Tôi phản đối là phản đối chính trị mà thôi, còn về chủng tộc, về tôn giáo, tôi không hề phản đối. Ai ai cũng là con Thượng Đế, người Nam, người Pháp vẫn là anh em một nhà. Tôi muốn rằng người Pháp, người Nam dìu dắt nhau mà cùng mưu lợi chung, miễn là chính thể cải lương cho được công bằng, cho có nhân đạo” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Tôi phản đối là phản đối chính thể mà thôi, sao lại gọi là phá hoại chính phủ Bảo hộ được!
Dân Việt Nam mất nước, như đàn con mất mẹ, chính phủ Bảo hộ tự nhận làm người mẹ nuôi ôm lấy mà trông nom dạy bảo cho. Tôi cũng là người trong nhà, trông thấy anh em mồ côi mồ cút cũng thương, lẽ đâu muốn cho anh em mất người mẹ nuôi ấy! Tôi cổ động là cổ động cho đồng bào biết hợp quần, biết ái quốc, biết yêu cầu cải lương chính trị, chớ có cổ động cho nhân dân làm loạn đâu?… Vả, nếu là kẻ có ý muốn làm loạn, thì tôi cứ ở ngay trong nước theo với Đề Thám cũng có thể làm được, có cần gì phải bỏ vợ, bỏ con, bỏ nhà, bỏ nước mà trốn đi ngoại quốc làm gì? Năm 1913, tôi nghe tin buộc tôi vào tội tử hình thì tôi vẫn đi lại ở Thượng Hải, có sợ gì đâu, vì tôi tự biết là vô tội” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Để phản bác sự buộc tội của Pháp, chúng cho rằng Phan Bội Châu đã “phản đối” chúng vì động cơ chức quyền phú quý: “… cuốn “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” là tôi làm từ trước, có đưa cho ông Phan Chu Trinh và cụ thượng Cao Xuân Dục xem, như vậy có phải là vì bất đắc chí với khoa cử rồi muốn tiếng ái quốc để cầu lợi lộc gì đâu?”.
Nước Nam mà không thành được dân quốc, tôi nhận cái danh tổng thống thời quý hóa gì, ví như một nhà, ông Cường Để là người chủ mà tôi chỉ là người giúp việc; việc chưa nên cơ ngũ gì, tôi viết báo, làm sách lấy tiền nuôi thân và nuôi các đồng chí; trong các sách đó, cũng có cuốn tôi viết, cũng có cuốn người khác mượn tên tôi mà viết. Trong các sách tự tay tôi viết, có chỗ ví người Pháp như thần thánh, ví dân Nam như gà như lợn. Tôi khuyên người Nam nên cố học cho bằng người Pháp để yêu cầu quyền độc lập, chớ tôi có xui ai làm việc bạo động bao giờ! Những kẻ bạo động chắc là không ai đọc sách tôi, không đọc sách tôi nên mới lấy gà lợn mà chống lại thần thánh. Vả chăng những việc ấy là việc vô nhân đạo, nước Nam mà độc lập, tôi mà có quyền thế, quyết nhiên cũng không dung túng những kẻ làm việc bạo động như vậy, vì làm thế là làm hại cho người Nam” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Quan tòa thực dân Pháp lại buộc tội và hạ bệ Phan Bội Châu: “Ông Phan Chu Trinh là bạn của ông, cũng là người phản đối chính trị, song cách của ông Trinh là cách hòa bình, không như cách của ông là cách kịch liệt. Bao nhiêu sách viết ra truyền bá cái tư tưởng cừu thị người Pháp, bao nhiêu lần chủ trương việc bạo động, đó là cái tang chứng rõ ràng. Vì ông mà bao nhiêu người sa lạc vào con đường tội lỗi. Khi đem ra các tòa án xét mỗi một việc này, hỏi mỗi người một lúc, thế mà chúng khẩu đồng từ, đều nói tại ông xúi giục chủ trương. Bao nhiêu công việc họ làm đều là tội ở ông cả. Những người ấy vì ông sai khiến quyến rũ mà đến nỗi thế. Thế mà hỏi thì ông chối. Nhiều việc khác trong khi dự thẩm, khi thì ông đổ lỗi cho ông Nguyễn Thượng Hiền, khi thì ông đổ lỗi cho Cường Để. Xem đấy đủ biết cái cách chống chế của ông không khéo, không có can đảm, không phải là người anh hùng…” (Lời của quan tòa người Pháp)
Quan tòa thực dân Pháp cho rằng Phan Bội Châu không phải là một anh hùng khi ông ngụy biện, chối tội –, Phan Bội Châu đã thú nhận về “chiêu bài phù Nguyễn”, cụ thể là phù Cường Để của mình:
Tôi phản đối chính trị cố nhiên là phải cần có người, cần có của, và phải lợi dụng ông Cường Để, cho người trong nước, đã in sâu cái óc quân chủ, vui lòng giúp rập. Điều đó tôi không chối.
Đến như hội “Duy Tân” thì là một học hội. Tôi có chiêu tập hàng thiếu niên anh tuấn trong nước ra ngoài cầu học. Ông Cường Để làm hiệu trưởng mà tôi thì làm giám đốc. Một hội như thế, có việc gì đáng tội đâu. Chẳng may chính phủ Nhật Bản cấm cách, chúng tôi phải trở về Tàu. Cái hội “Việt Nam Quang Phục” là người Tàu thương chúng tôi mà dung cho, trong đó có cả người Tàu, song nói rằng có ông Nguyễn Thượng Hiền thì thật là oan cho ông ấy quá. Điều đó tôi không chịu. Bấy giờ ông Nguyễn Thượng Hiền ở Sơn Tây chớ có ở Quảng Đông đâu! Vả chăng mục đích hội cũng chỉ là cầu học. Tôi định cổ động cho trong nước có nhiều người du học; khi có nhiều tay trí thức, bấy giờ mới yêu cầu chính phủ Bảo hộ trả lại quyền tự trị, lập thành một nước dân quốc. Trước sau tôi vẫn chủ trương dùng văn hóa mà phản đối chính trị, văn hóa không xong thì tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày bất lương, tôi còn một ngày phản đối. Chính trị mà có một ngày cải lương thì lập tức tôi đình chỉ sự phản đối ấy ngay” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)

Cường Để và Phan Bội Châu

Cường Để (1882-1951) là cháu trực hệ của hoàng tử Cảnh, tức là cháu đích tôn 6 đời của vua Gia Long. Vì dòng dõi hoàng thân nhà Nguyễn, nên nhiều nhà ái quốc như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu đã có kế hoạch liên lạc với gia đình ông để lập lại ngôi vua, thay vua Khải Định vì vị vua này hợp tác với thực dân Pháp. Năm 1906 Phan Bội Châu cùng ông trốn sang Nhật cổ động phong trào Đông Du. Ông có tư tưởng quân chủ lập hiến và nhận làm người lãnh đạo Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội.
Trong những đoạn tranh luận khá đanh thép với quan tòa thực dân Pháp, Phan Bội Châu vẫn tiếp tục khẳng định “chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề” của mình:
Cái tên Phạm Văn Tráng về đây tôi mới biết. Trong hội “Việt Nam Quang Phục” không có tên người ấy. Một người không quen biết bao giờ khi nào lại có thể lấy cái quan tước, cái phú quý mười phần chưa chắc chắn phần nào mà dụ người ta làm những việc như việc ném bom, là sự mười phần chắc chết cả mười được. Họ đổ cho tôi là chủ sự, chẳng qua là họ nghe tiếng tôi ra nước ngoài viết báo làm sách, ai ai cũng biết, và nếu những người ấy có quả thật là người trong đảng tôi nữa, thì đầu đảng tôi là ông Cường Để, chủ sự tất tự ông Cường Để chớ sao lại tự tôi? Còn những việc mà tôi nói tự ông Cường Để, tự ông Nguyễn Thượng Hiền là sự thật.
Tôi chối làm gì?
Ngay từ lúc tôi làm việc phản đối chính trị, tôi đã cầm chắc hai phần: một là nước Nam được độc lập, hai là tôi phải mất đầu. Về đây, chắc chết rồi, đổ tội cho ai nữa mà mong cho nhẹ tội? Hội đảng chúng tôi dựng lên là cần có tiền, cần có người, song nhờ có ông Cường Để có thế lực với dân trong Nam, ông Thuật, ông Nguyễn Thượng Hiền có thế lực với dân ngoài Bắc, có các ông ấy thì mới có đủ thu được nhân vọng Nam, Bắc; còn tôi, tôi chỉ có thế lực ở tỉnh Nghệ, cùng mấy tỉnh Trung Kỳ mà thôi. Sự đó là sự thật, không phải tôi chối. Chúng tôi dắt nhau ra ngoài, trước hết là cần phải tìm cách để nuôi được nhau đã, vì thế nên có nhờ người Tàu giúp tiền của thật […].
Những tội lỗi của những kẻ bạo động kia mà cho là tội lỗi của tôi cả, điều đó chi phải một nửa, nghĩa là chỉ phải về một phương diện mà thôi. […] chớ về phương diện pháp luật thì khi nào tội người em lại có thể là tội người anh, tội người con có thể là tội người bố được. […] Tôi phản đối chính trị, nhưng chỉ dùng cách hòa bình, chớ không dùng cách kịch liệt. Thân tôi thì chẳng qua như con muỗi, mà nhà nước thì binh lực như trời như biển, tôi chống sao cho lại mà tính chuyện bạo động? Đến nay hơn 20 năm trời, chiếc thân cơ khổ, một việc không nên, như thế tôi sao có thể là kẻ anh hùng cứu quốc được. Nước Nam mà ra nước Nam, thời có hàng ngàn người hơn tôi đứng ra lo toan việc nước, chớ như tôi, sao có đáng là bậc anh hùng. Tôi tuy là kẻ không anh hùng, song tôi thật không phải là kẻ tiểu nhân, chỉ tham đồ phú quý…” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Tôi cũng cảm ơn Hội đồng đã đem tôi ra trước mặt công chúng xét xử, lại cử hai trạng sư biện hộ. […] nhưng nếu nhà nước Bảo hộ lấy văn minh sang khai hóa cho các dân tộc ở Đông Dương, thời thiết tưởng như tôi thật đáng được tha tội” (lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Sau cụ Phan, hai luật sư Larre va Bona, Luật sư do Pháp chỉ định làm nhiệm vụ bênh vực bị cáo, đã thay nhau cãi, chống đỡ cho cụ Phan.
Sau đây là lời bào chữa của luật sư Bona, người Pháp, về động cơ hoạt động của Phan Bội Châu: “Cụ đem cái ý tưởng ấy bàn với các đại thần, thì bọn này lại dọa nạt cụ bằng câu xử tử. Cái máu nóng gặp phải những phản đối như vậy lại càng như sôi như đốt…” (lời bào chữa của trạng sư Bona)
Bona bào chữa tiếp cho bị cáo Phan Bội Châu: “Cụ có dự định dùng võ lực thật, nhưng chỉ dùng trong trường hợp vận dụng văn hóa không thành công mà thôi. Vả lại võ lực có chính đáng thì cụ mới làm, nghĩa là luyện tập lấy lục quân, hải quân, đại bác, phi cơ, khi nào đầy đủ mới đường đường chính chính đem quân ra khai chiến.
Nhưng đó là tư tưởng cụ về trước. Còn gần đây thời cụ là người thế nào? Ngay khi vẫn còn tự do, tự chủ, được tha hồ vùng vẫy nơi hải ngoại, cụ cũng đã soạn ra hai bộ sách mới. Cuốn thứ nhất là “Dư cửu niên lai, sở trì chi chủ nghiã”, trong đó cụ khuyên đồng bào nên từ bỏ hẳn lối bạo động, lối võ lực, theo gương Arabie và Phi Luật Tân, có tiến lên bằng văn hóa thì người Pháp phải cho tự trị. Cuốn thứ hai là “Pháp – Việt đề huề luận”, trong đó cụ khuyên người Nam nên đồng lao cộng tác với người Pháp.
Trong cuốn sách này cụ có đoán rồi sau này thế nào cũng có một cuộc Pháp – Nhật chiến tranh, và khi đó người Việt Nam phải thế nào? Cụ khuyên đồng bào nên đi đôi với Pháp mà chống lại Nhật, không phải về võ bị Nhật có kém gì người Pháp, nhưng cụ viện ra bốn lẽ sau đây…”. […]
Bởi vậy cụ Phan khuyên người Việt nam phải đồng tâm với Pháp vì họ đãi mình được công bằng nhân đạo hơn. […]
Như thế chẳng phải là một bằng chứng xác thực là cụ đã biến cải cái ý tưởng trước kia của cụ đấy hay sao? […]
Như vậy thời lúc này chẳng phải là lúc nên đem cái ý kiến Pháp – Việt đề huề của cụ Phan đã khuyên người đồng bang ra mà thực hành hay sao?”
Bona còn nói thẳng, việc tha bổng cho Phan Bội Châu là một “hành động chính trị khôn khéo”: “Thưa các Ngài, các Ngài nên dung thứ cho cụ Phan Bội Châu, vì như vậy, chẳng những các Ngài đã làm được một hành động quảng đại đối với lương tâm, mà các Ngài còn làm được một hành động chính trị khôn khéo nữa, và do đó, người Pháp chúng ta, ai là kẻ thức giả cũng phải đem lòng mến phục các Ngài” (lời bào chữa của trạng sư Bona)
Luật sư Bona (người Pháp) cũng đã xưng tụng cụ như sau: “Cụ Phan là người quả không hổ là kẻ ái quốc chân chính. Dù tôi là người Pháp, đối với cụ Phan tôi cũng phải ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế quang minh, cái tinh thần cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm của cụ”.
Phiên tòa xử đã kéo dài từ 8 giờ 25 sáng đến 8 giờ tối, tòa mới nghe xong lời bị cáo và lời biện hộ của luật sư.
Cuối cùng, sau một ngày xét xử, Hội Đồng Đề Hình vào trong nghị án. Do lo sợ hậu quả của vụ án nếu xét xử tử hình nên Hội đồng ra tuyên án: Khổ sai chung thân. (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).
Trước bản án khổ sai chung thân của cụ Phan, một phong trào đòi ân xá cụ Phan đã bộc phát khắp nơi. Xin ghi tóm tắt một số cá nhân và đoàn thể:
1. Điện văn của luật sư Bona và Larre cùng ông Clement, chủ nhiệm báo Argus Indochinois gửi toàn quyền Varenne. Phần đầu điện văn viết: ‘Với tư cách ký giả báo chí, tôi đã theo dõi các diễn tiến phiên tòa đặc biệt xử án nhà ái quốc Phan Bội Châu … Rất xúc động trước phán quyết của tòa án. Phần lớn người Pháp và An Nam hiện diện tại phiên tòa cũng xúc động như tôi. Hầu nâng cao thời đại của ngài và dư luận được trấn tĩnh, dám xin ngài gia ân cho nạn nhân của chế độ thuộc địa này’.
2. Ban Trị Sự hội Trung Kỳ Tương Tế ở Hà Nội gửi điện văn xin ân xá cụ Phan và toàn quyền Varenne đã trả lời, đại ý là sẽ xét lại hồ sơ vụ án và sẽ thi hành một chế độ khoan hồng.
3. Nữ giáo viên và nữ sinh Đồng Khánh Huế đã gửi điện văn cho toàn quyền Varenne với nội dung: ‘Chúng tôi, tất cả nữ giáo viên và nữ sinh trường Đồng Khánh, xin ngài vì lòng khoan dung, ân xá cho nhà ái quốc Phan Bội Châu’.
4. Điện văn của sinh viên trường Cao Đẳng Hà Nội: ‘Chúng tôi, sinh viên Trường Cao Đẳng Đông Dương, bị kích thích mạnh mẽ vì cách buộc tội nhà đại ái quốc và duy tân Phan Bội Châu, dám xin ngài rộng lòng ân xá cho cụ. Thi hành một việc khoan dung như vậy, ngài sẽ chứng tỏ được lòng trung thành với lý tưởng và thiên chức khai hóa nhân đạo của nước Pháp. Nhân dân An Nam sẽ không bao giờ quên ơn ngài’.
5. Hội Việt Nam Thanh Niên tại Hà Nội đã gửi truyền đơn tới nhiều cơ quan quốc tế yêu cầu lên tiếng đòi ân xá cụ Phan. Trong đó có thể kể:
– Hội Vạn Quốc
– Tòa Án Quốc Tế ở La Haye.
– Nghị Viện Pháp.
– Giám Quốc Pháp.
– Bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp.
– Toàn Quyền Đông Pháp.
– Sứ Thần Trung Hoa.
– Sứ Thần các nước tại Paris.
6. Trong phong trào đòi ân xá cụ Phan, tại Hà nội đã có 2 vụ đạo đạt thỉnh nguyện thư đặc biệt nhân dịp toàn quyền Varenne từ Sài Gòn ra Hà Nội:
– Khi xe Varenne tới cuối phố Hàng Đường, một nhóm hàng trăm phụ nữ, người đứng đầu là một bà cụ 70 tuổi, tóc bạc phơ, đã qùy nghiêm chỉnh ở giữa đường, đưa bức thư xin ân xá cụ Phan.
– Ở một địa điểm gần nhà ga, trên đường tới phủ Toàn Quyền, có hơn 200 học sinh, chia làm 3 nhóm, đứng ở 3 chỗ, đón đường Varenne. Mỗi toán cầm một lá cờ, trên nền cờ viết 3 dòng chữ:
Chúc nhà xã hội Varenne trường thọ. (Chữ đỏ, biểu hiệu cho đảng xã hội).
Xin xá thứ cho cụ Phan Bội Châu. (Chữ đen, màu tang chế, nói lên nỗi đau của thiếu niên Việt Nam trước cái án của cụ Phan).
Chấm dứt chủ nghĩa thuộc địa áp chế. (Chữ đỏ, nói lên tinh thần tranh đấu).
Khi Varenne đi qua, các toán học sinh đã nâng cao lá cờ và hô lớn các khẩu hiệu đó.

Tranh vẽ Phan Bội Châu, tác giả Hiếu Đệ

Trước sự công phẫn của nhân dân, ngày 24/12/1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân, Toàn quyền Varenne – Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, sau khi điện về Pháp đề nghị, đã ký quyết định “ân xá” cho nhà chí sĩ yêu nước. Sau khi được ân xá, Toàn quyền Varenne đưa Phan Bội Châu về an trí ở miền sông Hương núi Ngự (Huế) gọi là đi dưỡng già nhưng kỳ thật là giam lỏng ông, kiềm chế và theo dõi mọi hoạt động.
Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đây biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).
Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xã, kêu gọi mọi người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gửi về cho Mộng Du thi xã rất nhiều.
Mặc dù sống tiếp cuộc đời “cá chậu chim lồng” nhưng cụ vẫn tự làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước… Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên… Phan Bội Châu niên biểu, Lịch sử Việt Nam diễn ca. Đó còn là các công trình biên khảo hết sức đồ sộ như Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội chủ nghĩa, Chu dịch, Nhân sinh triết học, cùng với trên 800 bài thơ Nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn khác.
Trong những ngày đầu, có tư liệu cho rằng Pháp gửi Phan Bội Châu vào tạm sống tại nhà một người đồng chí cũ của ông, từ khá lâu y đã về đầu thú và nhận chức sắc của Pháp. Đó là Nguyễn Bá Trác, người mà theo tương truyền, là tác giả của bài thơ “Hồ trường” bi tráng nổi tiếng. Thậm chí, hơn thế nữa, Phan Bội Châu cònđóng phim, một loại phim có lẽ để tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề!
Tuy vậy, bốn năm sau (1929), khi đã ổn định tinh thần, Phan Bội Châu lại viết hồi kí. Đó là công việc ông đã từng làm, và bỏ dở nửa chừng. Cuốn sách bị bỏ dở ấy có tên là “Ngục trung thư”. Nay, trong túp nhà ở Bến Ngự (Huế), Phan Bội Châu lại viết tiếp, đồng thời chỉnh sửa lại những trang đã viết. Đó là cuốn “Tự phán” (tự xét định về mình) hay “Phan Bội Châu niên biểu”.
Phan Bội Châu mất ngày 29/10/1940, thọ 74 tuổi. Mai táng ngay trong chiều hôm sau tại phía trước ngôi nhà cụ ở Bến Ngự – Huế, theo đúng di chúc của Cụ. Trước giờ lâm chung, ông đã cố gắng đọc lên một bài khẩu chiến có những lời lẽ thống thiết như sau:
Nay đang lúc tử thần chờ trước cửa
Có vài lời ghi nhớ về sau
Chúc phường hậu tử tiến mau.
Phan Bội Châu để lại Bản di chúc có tên gọi là “Mấy lời vĩnh quyết” với những lời ngẫm ngợi với hậu thế:

Phan Bội Châu, một tên dân Việt Nam, trước lúc gần chết mà chưa tắt hơi, kính có mấy lời thành thực từ biệt cùng anh em đồng bào. Trước kia không kể, kể từ năm 1906… khiến cho người nước kẻ ở người đi, kẻ còn người mất và bị lụy rất nhiều, toàn là tội ác về tay tôi gây nên. Mà may quá! Từ 1925 tôi mang cái sống thừa về nước đến giờ, anh em đồng bào đã không ai trách tội tôi mà lại quá thương yêu tôi, tôi thực là hổ thẹn với đồng bào ta và cảm ơn vô cùng. Trải mười lăm năm nay, nằm co trong túp lều ở Bến Ngự cùng chiếc đò trên sông Hương, đoạn đời sống thừa của tôi, không việc gì đáng nói và đồng bào đã rõ thừa. Bây giờ tôi đã đến lúc lâm biệt, xin có lời từ biệt.
Bội Châu từ xưa tới nay, đối với đồng bào đã không chút gì là công, mà lại tội ác quá nặng. Bây giờ tôi chết, thiệt là một tên dân trốn nợ và vỗ nợ, đồng bào có thứ lượng cho tôi thì xác tôi tuy chết mà tinh thần tôi vẫn cảm ơn đồng bào luôn luôn.
“Người đến khi gần chết, lời nói hẳn lành”. Nay tôi đã đến lúc “gần chết” đó, xin có mấy lời gan phổi tỏ lời hy vọng cuối cùng với đồng bào:
Đồng bào Việt Nam ta có trên hai mươi triệu, bấy nhiêu đầu óc, bấy nhiêu tai mắt, bấy nhiêu chân tay, nếu không biết thân yêu nhau, đồng lòng hợp sức làm cái bổn phận quốc dân đối với Tổ quốc… Không thế, trên mặt địa cầu sau này sẽ không có hình bóng dân tộc Việt Nam nữa, thì Bội Châu này dầu có trốn nợ, vỗ nợ cũng may mà được chết trước anh em, tôi lấy làm một điều hạnh phúc.
Mấy lời trên, tôi xin từ biệt mà cảm ơn đồng bào…
Kính,
Phan Bội Châu quyết biệt

VÀI TƯ LIỆU THAM KHẢO:

“Phan Bội Châu toàn tập”, tập 4, Chương Thâu sưu tầm & biên soạn
“Phan Bội Châu -Thân thế và thơ văn” – của Thế Nguyên
“Lời cãi trước phiên tòa đề hình ngày 23-11-1925”, Bùi Đình
“Vụ án Phan Bội Châu”, Bùi Đình, Nxb. Tiếng Việt, Hà Nội, 1950
Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, Nguyễn Quang Tô, Tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974
“Chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề của Phan Bội Châu”, Trần Xuân Am, 2006

PHỤ LỤC: NHỮNG TRÒ LỐ HAY LÀ VA-REN VÀ PHAN BỘI CHÂU

Tác giả: Nguyễn Ái Quốc
Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Va-ren đã nửa chính thức hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ “chăm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.
Trước hết, ngài chỉ muốn chăm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã.
Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ Mác-xây đến Sài Gòn kéo dài chừng bốn tuần lễ cơ. Như vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.
Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Va-ren. Hãy theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.
Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với Người kia, con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này săn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.
Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xẩy ra chuyện gì đây?
– Tôi đem tự do đến cho ông đây! Va-ren tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kếch đang xiết chặt (Phan) Bội Châu trong nhà tù ảm đạm. “Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.
“Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là Toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chăng bao giờ cũng hay nhất? Phải chăng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông ạ! Vả lại, Trời ơi! tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu Á!
“Ô! ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy ông sẽ được tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!
“Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guy-xta-vơ, A-lếch-xăng, A-ri-xtit, An-be, Pôn và Lê-ông. Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như vậy các vị ấy có sao không? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của chúng tôi, nhờ Chúa! rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.
“Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm Toàn quyền…!”
Ừ thì Phan Bội Châu nhìn Va-ren. Nhưng, lạ chưa! những lời nói của Va-ren hình như lọt vào tai (Phan) Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai”, và cái im lặng dửng dưng của (Phan) Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Va-ren sửng sốt cả người.
Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây: đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì (Phan) Bội Châu không hiểu Va-ren cũng như Va-ren không hiểu (Phan) Bội Châu.
* * *
Cuộc gặp giờ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó – rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.
Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy (Phan) Bội Châu có mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy.
Nguyễn Ái Quốc
T.B – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Va-ren – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng (Phan) Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren; cái đó thì cũng có thể.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: